XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHO CÁC ĐẶC SẢN CỦA ĐỊA PHƯƠNG
Người đăng tin: Chi Thị Phương Đặng Ngày đăng tin: 16/10/2017 Lượt xem: 134

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ kể cả về chiều sâu và chiều rộng, trong quá trình đó, hoạt động sản xuất và kinh doanh các đặc sản địa phương đã thu được nhiều thành quả to lớn, góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào khu vực có đặc sản. Nổi bật trong số các đặc sản là các sản phẩm: cà phê, gạo, chè, hồ tiêu, ca cao, hạt điều, thuỷ sản....và các sản phẩm làng nghề. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã và đang ký kết các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA) ... thì các biện pháp trợ cấp, bảo hộ mang tính chất khuyến nông, khuyến công của Nhà nước sẽ dần bị hạn chế, sản phẩm, bao gồm cả các đặc sản của Việt Nam sẽ không còn lợi thế về giá và do đó sẽ bị cạnh tranh gay gắt và quyết liệt không chỉ tại các thị trường xuất khẩu mà còn ngay cả ở thị trường nội địa. Vì vậy, chúng ta cần xây dựng chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh cho nông, lâm, thuỷ sản, các sản phẩm làng nghề và các chính sách hỗ trợ. Một trong những hướng ưu tiên để nâng cao sức cạnh tranh cho nông, lâm thuỷ sản, các sản phẩm làng nghề của Việt Nam là xây dựng, đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) cho cácloại sản phẩm này.

 

Ảnh: Sản phẩm nước mắm của Hội Làng nghề nước mắm Nam Ô, Đà Nẵng

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  

1.1 Đặc sản của địa phương

Trên thế giới, không có khái niệm đồng nhất về sản phẩm đặc sản. Giới chuyên môn và các nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ khác nhau để nói tới các đặc sản bản địa: sản  phẩm  địa phương (produit de terroir), sản phẩm nguồn gốc xuất xứ (produit d’origin), sản phẩm địa phương (local product, regional products), đặc sản (specialty)…

Theo nhóm công tác của Ủy ban nông thôn Québec (Solidarité rural du Québec), thì sản phẩm địa phương (produit de terroir) là “sản phẩm (hoặc các thành phần chính của sản phẩm) được sản xuất trong một khu vực địa lý nhất định và đồng nhất và các sản phẩm có đặc tính khác biệt đáng kể với các sản phẩm khác trên thị trường dựa trên những đặc trưng riêng có của vùng sản xuất. Các đặc trưng này phụ thuộc vào các yếu tố liên quan tới vùng lãnh thổ như là điều kiện địa lý, khí hậu, hay những tập quán sản xuất truyền thống và kiến thức bản địa. Người sản xuất làm chủ các giai đoạn sản xuất, chế biến và đưa sản phẩm ra thị trường. Như vậy, để xác định như thế nào là đặc sản, cần lưu ý tới 3 điểm: sự khác biệt (difference), gắn với vùng lãnh thổ (appartenance au terroir) và tri thức truyển thống (neccessité du savoir-faire). Ngoài ra, đặc sản đòi hỏi người sản xuất phải tổ chức các kênh hàng phù hợp để thương mại sản phẩm ra thị trường.

Trên thực tế, các sản phẩm có liên hệ (ít, nhiều) tới địa danh vùng sản xuất thường được gọi là sản hoặc truyền thống (terroir, d’origine hoặc tradionnel).

- Sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ (Produit d’origine): là các sản phẩm có lợi thế về mặt tự nhiên, văn hóa địa phương và sở hữu đặc tính riêng nhưng không nhất thiết là sản phẩm được sản xuất theo phương thức sản xuất truyền thống, cổ truyền.

- Sản phẩm truyền thống (Produit tradtionnel): là kết quả của thực hành sản xuất truyền thống, nhưng nguyên vật liệu ban đầu để sản xuất/chế biến có thể đến từ các nơi khác.

Theo De Kop, Sautier và Gerz (2006), đặc sản là các sản phẩm chỉ có thể sản xuất trong một khu vực địa lý nhất định mà tại đó thực hành sản xuất của con người cộng với yếu tố về văn hóa, trải qua thời gian dài, đã góp phần tạo ra những đặc tính sinh học riêng có cho sản phẩm. Do tính đặc thù về địa lý, danh tiếng và chất lượng, đặc sản thường có giá trị gia tăng lớn hơn so với sản phẩm thông thường cùng loại. Giá trị này thuộc về cộng đồng sản xuất sản phẩm trong nhiều năm, thậm chí qua nhiều thế hệ phát triển thành đặc sản mang lại lợi ích lâu dài, bền vững cho cộng đồng địa phương.

Tóm lại, có thể định nghĩa đặc sản như sau: “Đặc sản là sản phẩm có nguồn gốc từ một khu vực, địa phương, vùng địa lý cụ thể, có những tính chất đặc thù về hình thái, chất lượng không giống các sản phẩm cùng loại khác và các đặc tính này chủ yếu có được do các điều kiện tự nhiên, con người vùng sản xuất, chế biến sản phẩm tạo ra”.  Nói một cách đơn giản hơn, đặc sản là sản phẩm được sản xuất hay khai thác ở một vùng nhất định theo một quy trình, tập quán khai thác, sản xuất nhất định, có những đặc tính, đặc điểm đặc trưng mà nơi khác không có được.

1.2 Thương hiệu cho đặc sản địa phương

Cho đến nay, chưa có một văn bản pháp luật nào về sở hữu trí tuệ quy định về “thương hiệu”, tuy nhiên, thuật ngữ này được sử dụng nhiều trong thương mại và nó có thể được hiểu rằng “Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, biểu tượng (Logo), “hình ảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó.”

Có thể tạm chia ra mấy đối tượng được gọi là thương hiệu như: Nhãn hiệu (ví dụ: Trung Nguyên, Vinamilk ...), Chỉ dẫn địa lý (ví dụ: Phú Quốc, Buôn Ma Thuột...), Tên thương mại (ví dụ: Công ty Cà phê Trung Nguyên, Công ty cà phê Đức Lập...). Việc đăng ký bảo hộ các đối tượng này được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có hiệu lực từ ngày 01.07.2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 01.01.2010 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

Bảo hộ nhãn hiệu

Bảo hộ nhãn hiệu là hình thức phổ biến đối với mọi mặt hàng lưu hành trên thị trường. Chức năng của nhãn hiệu là dùng để phân biệt hàng hoá/dịch vụ cùng loại của chủ thể này và chủ thể khác. Nhãn hiệu hiệu có thể bao gồm nhãn hiệu thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.

- Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

- Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

Bảo hộ tên thương mại

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ: i) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; ii) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định (Điều 79, Luật SHTT, 2005).

Việc bảo hộ tên gọi (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý) cho đặc sản và/hoặc các dịch vụ truyền thống cũng như tên của chủ thể (tên thương mại) sản xuất/kinh doanh đặc sản và/hoặc các dịch vụ truyền thống là hết sức cần thiết. Việc trang bị tên gọi cho đặc sản và dịch vụ truyền thống không chỉ đơn thuần là đăng ký bảo hộ mà còn phải được bảo vệ, chăm sóc, bồi dưỡng lâu dài nhằm nâng cao uy tín, ảnh hưởng của sản phẩm/dịch vụ mang tên gọi đó cũng như uy tín của chủ thể tạo ra chúng. Cũng cần lưu ý là, nếu ở thị trường nội địa, mỗi doanh nghiệp có một hoặc nhiều nhãn hiệu cho một sản phẩm/dịch vụ thì khi xuất khẩu có thể nhiều doanh nghiệp phải hợp sức lại dưới một nhãn hiệu chung (nhãn hiệu tập thể). Điều này là cần thiết, nhất là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn mới thâm nhập thị trường. Ở giai đoạn mới phát triển thị trường, một doanh nghiệp nhỏ đơn độc với một nhãn hiệu của riêng mình sẽ gặp khó khăn về chi phí cũng như khả năng tiến hành thủ tục đăng ký và theo dõi hành vi xâm phạm của các đối thủ. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp với một nhãn hiệu tập thể sẽ khắc phục được các khó khăn đó, đồng thời năng cao được sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Sau khi đã thiết lập được vị thế cho nhãn tập thể đó, mỗi doanh nghiệp sẽ phát triển nhãn hiệu riêng của mình cùng với và dưới ô nhãn hiệu tập thể nói trên. Do đó, nhãn hiệu tập thể là hình thức đặc biệt phù hợp để bảo vệ và phát triển nông, lâm, thuỷ sản và các sản phẩm làng nghề của nước ta.

Một hình thức đặc biệt khác để bảo vệ các đặc sản của chúng ta là bảo hộ chỉ dẫn địa lý (trước đây, theo Bộ Luật Dân sự năm 1995, đối tượng này được gọi là tên gọi xuất xứ). Bằng hình thức bảo hộ này, nhiều nhà sản xuất/kinh doanh một loại đặc sản trong một khu vực địa lý xác định có thể cùng nhau xin phép Nhà nước đăng ký một chỉ dẫn địa lý để cùng sử dụng chung nhằm bảo vệ uy tín của đặc sản qua việc đảm bảo chất lượng đặc thù và nguồn gốc của đặc sản. Tương tự như đối với nhãn hiệu tập thể, sau khi đã thiết lập được vị thế của chỉ dẫn địa lý đó, mỗi doanh nghiệp sẽ phát triển nhãn hiệu riêng của mình cùng với và dưới ô chỉ dẫn địa lý.

Ngoài hai hình thức đặc biệt nêu trên, chúng ta cũng có thể sử dụng hình thức nhãn hiệu chứng nhận để bảo vệ các đặc sản. Ở hình thức này, một cơ quan Nhà nước hoặc doanh nghiệp, có chức năng chứng nhận là chủ một nhãn hiệu chứng nhận, cho phép có điều kiện các doanh nghiệp khác sử dụng nhãn hiệu chứng nhận trong hoạt động sản xuất kinh doanh một hoặc nhiều sản phẩm/dich vụ. Cũng giống như hai hình thức bảo hộ trên đây, mỗi doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu chứng nhận này có thể phát triển nhãn hiệu riêng của mình cùng với và dưới ô nhãn hiệu chứng nhận.

1.3 Lợi ích của bảo hộ thương hiệu cho đặc sản địa phương

Lợi ích của người sản xuất

  • Có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
  • Giúp nhà sản xuất duy trì được lượng khách hàng truyền thống, thu hút khách hàng tiềm năng.
  • Giúp tăng doanh số và lợi nhuận.
  • Giúp nhà sản xuất đưa sản phẩm thâm nhập thị trường thuận lợi và mở rộng thị trường xuất khẩu.
  • Giúp nhà sản xuất chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (đối với các hành vi chỉ dẫn sai lệch nguồn gôc của sản phẩm).

Lợi ích của cộng đồng

  • Phát triển nông nghiệp nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
  • Phát triển các ngành nghề truyền thống và các dịch vụ khác, đặc biệt là du lịch vùng.
  • Tạo công ăn việc làm cho người dân, hạn chế di dân, giúp phát triển đều giữa các vùng kinh tế, ổn định kinh tế vùng.
  • Góp phần gìn giữ các giá trị văn hoá, truyền thống.

Lợi ích của người tiêu dùng

  • Được chỉ dẫn bởi các dấu hiệu về khu vực địa lý được gắn trên sản phẩm.
  • Yên tâm sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thực từ khu vực địa lý với chất lượng được kiểm soát.
  • Tránh các rủi ro từ việc sử dụng hàng hoá giả mạo, kém chất lượng

II. HIỆN TRẠNG ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ, NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CỦA VIỆT NAM  

2.1 Đối tượng đăng ký

Vị trí địa lý đặc biệt đã mang đến cho Việt Nam nền khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa và điều kiện tự nhiên rất đa dạng, phân hoá giữa các vùng miền trên khắp đất nước. Việt Nam lại là một nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời, với tổ chức cộng đồng cơ bản là xóm làng, do vậy các sản phẩm nông, lâm thuỷ sản và làng nghề của chúng ta đặc biệt phong phú. Xuất phát từ những đặc điểm trên mà chúng ta nhận thấy rằng ở Việt Nam có một hệ thống các sản vật rất đa dạng và phong phú, mỗi một địa phương trên khắp đất nước Việt Nam đều có những sản phẩm mang đặc trưng của quê hương, vùng miền của mình. Người dân Việt Nam thường lấy tên chính quê hương mình gắn liền với những sản phẩm, những đặc sản của địa phương vừa như một nét đặc thù để chỉ nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, vừa để thể hiện lòng tự hào về vùng quê mình. Đi đến bất kỳ đâu trên đất nước Việt Nam, ta cũng có thể bắt gặp những tên gọi như vậy. Sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi của Việt nam rất đa dạng như lương thực, thực phẩm; động vật, thực vật, hoa, quả, cây thuốc, cây công nghiệp…

Trong mỗi loại sản phẩm này đều có loại có danh tiếng gắn liền với địa danh như: khóm (dứa, thơm) Cầu Đúc, quýt đường Long Trị, cam sành Ngã Bảy, cam Vinh, gạo Điện Biên, gạo Một bụi đỏ Hồng Dân; khoai Lệ Bồ; nước mắm Phú Quốc, Phan Thiết, Nam Ô; quế Trà My, hoa Đà Lạt; hoa đào Nhật Tân; hồng ngâm Bắc Kạn; vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn; nhãn lồng Hưng Yên; xoài cát Hoài Lộc; xoài Yên Châu; thanh long Bình Thuận; mía Kim Tân; dừa Bến Tre; hoa hồi Lạng Sơn; sâm Ngọc Linh (núi Ngọc Linh); cà phê Buôn Ma Thuột, cà phê Khe Sanh; chè Thái Nguyên, chè Mộc Châu, Blao; thuốc lào Tiên Lãng; điều Bình Phước, tiêu Quảng Trị....

Các sản phẩm đặc thù gắn với địa danh là những tài sản có giá trị, được xem như những thương hiệu mang tính cộng đồng. Đồng thời, các sản phẩm này mang tính địa phương: được nhận diện và xác nhận khái niệm “địa phương” thông qua thị trường. Đây chính là minh chứng cho việc các sản phẩm này mang đến giá trị tiềm năng dài hạn không chỉ về mặt kinh tế mà còn ở cả mặt xã hội. Yếu tố xã hội ở đây nằm ở khía cạnh sự công nhận các phong tục tập quán, làm tăng các giá trị truyền thống, điều này giúp khơi nguồn sự gắn bó giữa người dân địa phương với lịch sử và truyền thống vùng miền.  

Do đó, đối tượng đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản chủ yếu là ĐỊA DANH (dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm), hay nói cách khác là hiện nay chúng ta sử dụng chủ yếu địa danh để đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản. Việc đăng ký, bảo vệ và phát triển các địa danh gắn liền với sản phẩm không chỉ là trách nhiệm, quyền lợi của người dân trong mỗi khu vực mà còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

2.2 Quản lý Nhà nước đối với địa danh

Theo quy định tại Điều 4.22, Điều 11 Luật SHTT năm 2005 và Điều 3 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP, quản lý Nhà nước đối với các dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý (địa danh) được quy định như sau:

- Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện xác lập quyền cho các dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý dùng cho các đặc sản địa phương, các sản phẩm/dịch vụ truyền thống.

- Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương quản lý các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý tại địa phương.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Văn hoá-Thể thao-Du lịch hỗ trợ Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý tại địa phương dùng cho các đặc sản địa phương, các sản phẩm/dịch vụ truyền thống liên quan đến lĩnh vực mà mỗi Bộ quản lý.

2.3 Hiện trạng đăng ký nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận

Tính đến ngày 30/7/2017, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận cho 1005 nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận, trong đó 810 nhãn hiệu tâp thể và 195 nhãn hiệu chứng nhận.

Trên cơ sở thẩm định các đơn đăng ký nhãn hiệu tập/nhãn hiệu chứng nhận, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Đối với nhãn hiệu tập thể

- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể rất đa dạng, bao gồm: Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã sản xuất sản xuất, Liên hiệp hợp tác xã, Hội/Hiệp hội sản xuất/kinh doanh, Hội làm vườn, Công ty TNHH, Trung tâm nghiên cứu….

- Phần lớn các nhãn hiệu tập thể đều chưa thể hiện được chất lượng của sản phẩm/dịch vụ và khu vực địa lý tương ứng với địa danh (trong quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể).

Đây cũng trở thành khó khăn trong hoạt động quản lý và phát triển của các nhãn hiệu tập thể, đặc biệt là vai trò và khả năng phát triển các nhãn hiệu tập thể đối của các chủ sở hữu. Với đặc điểm về sản xuất, đặc điểm hoạt động, năng lực hoạt động của các Hợp tác xã, hiệp hội/hội sản xuất kinh doanh... đã tạo ra nhiều khó khăn trong quản lý và khai thác nhãn hiệu tập thể. Sự phát triển của các nhãn hiệu tập thể phải được gắn liền với việc sử dụng các dấu hiệu “địa danh” trên sản phẩm, cung cấp các sản phẩm đảm bảo chất lượng, danh tiếng đến người tiêu dùng, điều đó phụ thuộc vào việc hình thành các chuỗi giá trị, kênh phân phối... và đây cũng là điểm yếu của các chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể hiện nay.

Ngoài ra, đối tượng địa danh dùng cho các sản phẩm nông nghiệp, các đặc sản thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước quản lý nhằm đảm bảo việc cấp quyền sử dụng công bằng và khách quan. Một trong những hình thức thực hiện điều này hiệu quả nhất là thành lập hoặc hỗ trợ thành lập Tổ chức chung (Hội, Hiệp hội, tổ chức đa ngành, hợp tác xã…) đại diện cho quyền và quyền lợi của những người sản suất/kinh doanh/người cung cấp dịch vụ truyền thống. Những người này thống nhất với nhau thông qua một quy chế sử dụng địa danh làm nhãn hiệu tập thể (Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể), xin phép UBND tỉnh được sử dụng địa danh này và nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể. Tuy nhiên, mặc dù những chủ thể đăng ký rất ý thức được việc phải đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhưng họ lúng túng trong việc xin phép sử dụng địa danh và xây dựng cơ chế chung (Quy chế) để quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể. Hơn nữa, chưa có gì đảm bảo là phần lớn các chủ thể đăng ký được liệt kê trên đây đều là các tổ chức đại diện cho quyền và quyền lợi của những người sản suất/kinh doanh/người cung cấp dịch vụ truyền thống trong khu vực địa lý đồng thời còn có thể làm giảm uy tín/danh tiếng của sản phẩm/dịch vụ do không có cơ chế chung để kiểm soát chất lượng sản phẩm.  

Đối với nhãn hiệu chứng nhận

- Tất cả các chủ nhãn hiệu chứng nhận là cơ quan Nhà nước (UBND tỉnh/huyện, các Sở KH&CN, NNPTNT, CT, VHTTDL);

- Các hồ sơ đơn đều thực hiện đúng quy định pháp luật, đặc biệt là Quy chế sử dụng NHCN bao gồm đầy đủ các nội dung theo quy định pháp luật.

Mặc dù các địa phương đã xây dựng các bộ hồ sơ đăng ký nhãn hiệu chứng nhận tương đối hoàn chỉnh, song do thời gian thực hiện còn tương đối ngắn nên chưa thể đánh giá được hiệu lực và hiệu quả của các nhãn hiệu chứng nhận này. Tuy nhiên, theo ghi nhận mới đây của Cục Sở hữu trí tuệ, một số nhãn hiệu chứng nhận đã thu được hiệu quả mong muốn như: “Hoa Đà Lạt”, “Rau an toàn Mộc Châu”, nước mắm Cát Hải….

2.4 Hiện trạng đăng ký chỉ dẫn địa lý

Tính đến 30/8/2016, Việt Nam đã có 58 chỉ dẫn địa lý  được đăng ký (trong đó có 6 chỉ dẫn địa lý của nước ngoài). Trên cơ sở thẩm định các đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý nêu trên và trong quá trình sử dụng các chỉ dẫn địa lý trên thực tế, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

- Chủ thể đăng ký (người nộp đơn): chủ thể đăng ký chỉ dẫn địa lý của các chỉ dẫn địa lý chủ yếu là Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan được ủy quyền như: Sở khoa học và Công nghệ, Uỷ ban nhân dân huyện/thành phố trực thuộc tỉnh hoặc Hiệp hội, Hội (được UBND tỉnh cho phép) như: Hội sản xuất nước mắm Phú Quốc, Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu, Hiệp hội thanh long Bình Thuận.

- Chủ thể quản lý: Tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý được ghi nhận chủ yếu là Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan được uỷ quyền (Sở khoa học và Công nghệ, Uỷ ban nhân dân huyện/thành phố trực thuộc tỉnh) và một Hiệp hội (Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu). Trong số 43 chỉ dẫn địa lý đã có 35 chỉ dẫn địa lý có các quy chế quản lý, theo đó chủ thể quản lý là Sở Khoa học và Công nghệ chiếm tỷ trọng chính trong các mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý của Việt Nam với 63% (tương đương 22 chỉ dẫn địa lý), 34% là do UBND huyện là chủ thể quản lý, chỉ có 1 chỉ dẫn địa lý có chủ thể quản lý là Hội.

Như vậy, thực tế hiện nay là nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý chỉ dẫn địa lý, quản lý chỉ dẫn địa lý trở thành một đối tượng trong quản lý nhà nước ở địa phương, trở thành chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị đang thực hiện chức năng quản lý nhà nước.Có thể thấy là các chỉ dẫn địa lý đều được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước (Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân Huyện). Sở dĩ có hiện trạng này là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng chủ yếu nhất vẫn là chưa có Tổ chức đại diện chung cho quyền và quyền lợi của các nhà sản xuất/kinh doanh trong khu vực địa lý, đồng thời tổ chức đó phải có đủ năng lực để đảm nhận đầy đủ các hoạt động quản lý chỉ dẫn địa lý.

Theo kết quả ghi nhận của Cục Sở hữu trí tuệ, hiện nay đa số các chỉ dẫn địa lý đã thành lập hội/hiệp hội. Tuy nhiên, phần lớn các Hiệp hội này vần còn lúng túng trong việc quản lý chỉ dẫn địa lý, họ chỉ đóng vai trò phối hợp chứ chưa thực sự là chủ thể trong quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý.

Do tại các khu vực địa lý, các nhà sản xuất/kinh doanh chưa thể tập trung được nguồn lực để bảo vệ, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý của mình. Nên Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (thông qua Sở Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân huyện…) phải đứng ra yêu cầu xác lập quyền cho chỉ dẫn địa lý (lập hồ sơ và đăng ký) và sau đó cũng đứng ra quản lý chỉ dẫn địa lý, và đương nhiên là Nhà nước phải bỏ ra một chi phí rất lớn. Thực tế hiện nay cho thấy, các địa phương mới chỉ hoàn thành việc xác lập quyền, trong khi cơ chế và các thao tác quản lý chưa được thiết lập hoặc nếu có thì cũng chưa hoạt động hiệu quả. Điều này dẫn đến hiệu lực và hiệu quả của Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý chưa được như mong muốn.

2.5 Một số ví dụ về xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương

Trong quá trình xây dựng hình ảnh của vùng, khu vực qua việc một nhãn hiệu cộng đồng/chỉ dẫn địa lý (thương hiệu cộng đồng), chúng ta có thể kể ra nhiều ví dụ điển hình đã có được những thành công ban đầu, tuy nhiên, trong phạm vi tài liệu này chúng tôi  không thể giới thiệu hết mà chỉ có thể giới thiệu một số chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể để tham khảo.

- Chỉ dẫn địa lý “nước mắm Phú Quốc” là chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được đăng ký bảo hộ, nước mắm Phú Quốc có chất lượng đặc trưng và danh tiếng lâu đời, được sản xuất trên đảo Phú Quốc xinh đẹp có điều kiện tự nhiên đặc thù và quy trình sản xuất truyền thống của người dân trên đảo. Hội nước mắm Phú Quốc đã được thành lập, được sự giúp đỡ của Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang, đang bắt đầu tiến hành kiểm soát chất lượng và nguồn gốc của nước mắm đồng thời bắt đầu cấp  quyền sử dụng cho các nhà sản xuất kinh doanh nước mắm Phú Quốc. Hội nước mắm Phú Quốc cũng đã tiến hành nộp đơn đăng ký tên gọi xuất xứ và được Cộng đồng chung châu Âu bảo hộ vào năm 2012. Đây cũng là sản phẩm thành công trong việc xây dựng sự đồng thuận của cộng đồng trong việc xây dựng và thống nhất về sản phẩm, chất lượng và các dấu hiệu chỉ dẫn địa lý trên thị trường. Hiện nay, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý Phú Quốc đã được phân phối rộng khắp ở các địa phương trên cả nước.

- Chỉ dẫn địa lý “thanh long Bình Thuận” là chỉ dẫn địa lý cho thanh long, một loại trái cây có giá trị xuất khẩu cao. Thanh long Bình Thuận được xuất khẩu sang nhiều nước như Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Quốc, Đài Loan... Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận và Hiệp hội thanh long Bình Thuận đã cấp 57 giấy chứng nhận quyền sử dụng cho các nhà sản xuất kinh doanh. Hiện nay, tỉnh Bình Thuận đã đăng ký chỉ dẫn địa lý Bình Thuận sang Hoa Kỳ .

- Chỉ dẫn địa lý “Cà phê Buôn Ma Thuột” là chỉ dẫn địa lý cho cà phê nhân, một sản phẩm nổi tiếng và có chất lượng đặc thù của Tây Nguyên nói chung và của Đắc Lắc nói riêng. Hiện nay, Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột đã được thành lập và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng, quy trình sản xuất cà phê. Hiệp hội cũng đã phối hợp chặt chẽ với Sở Khoa học và Công nghệ Đắc Lắc trong việc cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Buôn Ma Thuột” cho các doanh nghiệp có đăng ký. Dự kiến sản lượng cà phê Buôn Ma thuột sẽ đạt khoảng 8000-10000 tấn trong tương lai gần. Tuy nhiên, một trong những khó khăn của chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột là chỉ bảo hộ sản phẩm cà phê nhân, điều này đã hạn chế sự phát triển của chỉ dẫn địa lý, do đó, hiện nay UBND tỉnh Đắc Lắk đang thực hiện các thủ tục cần thiết để đề nghị bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho cà phê bột.

- Nhãn hiệu tập thể Cái Mơn dùng cho sản phẩm giống cây ăn trái được cấp cho Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất kinh doanh cây giống Cái Mơn (xà Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre). Hiện nay, Hợp tác xã được Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre hỗ trợ, đang xây dựng quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy trình sản xuất, quy trình quản lý tem, nhãn, chiến lược phát triển…

- Ngoài ra, cũng có thể kể đến các thương hiệu cộng đồng đang phát triển như: Hậu Giang cá thát lát; Lục Ngạn (vải thiều), Vinh (cam quả), Phan Thiết (nước mắm), Hạ Long (chả mực), Cao Phong (cam quả), Mèo Vạc (mật ong); các nhãn hiệu tập thể như Blao (trà), Huế (thanh trà), Chư Sê (hạt tiêu), Thái Nguyên (chè)…

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHO ĐẶC SẢN ĐỊA PHƯƠNG 

Xuất phát từ các phân tích trên đây, và từ thực tiễn, có thể đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam như sau:

3.1 Ở cấp trung ương

- Hoàn thiện khung pháp lý cho việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cho địa danh sử dụng cho đặc sản/dịch vụ truyền thống. Hiện nay pháp luật về sở hữu trí tuệ của chúng ta còn thiếu quy định về kiểm soát chỉ dẫn địa lý và các quy định về biểu tượng chung (ví dụ biểu tượng chỉ dẫn địa lý quốc gia) cho đặc sản.

+ Việt Nam hiện nay không có quy định pháp luật ở mức độ quốc gia (Luật, Nghị định, Thông tư...) cụ thể về kiểm soát chỉ dẫn địa lý, nghĩa là pháp luật hiện nay chưa quy định là chỉ dẫn địa lý được kiểm soát như thế nào, kiểm soát gì và ai kiểm soát. Thực tế hiện nay, mỗi chỉ dẫn địa lý sẽ có một quy chế kiểm soát chỉ dẫn địa lý riêng, quy định cụ thể về tổ chức bộ máy, quy trình và cách thức tổ chức kiểm soát. Việc xây dựng quy định về Tổ chức chứng nhận với nhiệm vụ kiểm soát và chứng nhận chất lượng và nguồn gốc sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý là cần thiết. Tổ chức này hoàn toàn độc lập với tổ chức tập thể của các nhà sản xuất/ kinh doanh, vì thế còn được gọi là tổ chức thứ ba. Tổ chức chứng nhận đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động nhằm kiểm tra chất lượng và nguồn gốc của sản phẩm, đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc tuân thủ các quy định. Nếu như việc xác lập quyền cho các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đảm bảo cho quyền sử dụng địa danh như một dấu hiệu đặc biệt chỉ dẫn ngồn gốc cho sản phẩm của cộng đồng những người sản xuất ở địa phương thì việc thiết lập các tổ chức chứng nhận lại được coi là một khâu thiết yếu để đảm bảo rằng sản phẩm được cung ứng ra thị trường xứng đáng với chất lượng và danh tiếng mà nó đã được công nhận.

+ Cần có các quy định về biểu tượng chung nhằm xây dựng hình ảnh của các khu vực và/hoặc của quốc gia thông qua đặc sản của các khu vực đó và sản phẩm nông nghiệp chủ đạo của quốc gia (như: thuỷ sản, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, cao cao, hạt điều, chè...). Một doanh nghiệp muốn cho sản phẩm của họ được mang biểu tượng chung, thì cần phải đảm bảo các tiêu chí về chất lượng và nguồn gốc (được quy định trong quy chế sử dụng biểu tượng) và phải được một tổ chức chứng nhận chứng nhận là đã tuân thủ các quy định trong quy chế.

- Cần có chính sách tổng thể của Nhà nước hỗ trợ thành lập các tổ chức tập thể có đủ năng lực để quản lý, đăng ký và bảo vệ và phát triển một nhãn hiệu chung (nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận). Chính sách tổng thể như vậy ít nhất cần phải bao gồm các vấn đề sau: quy hoạch, tài chính, hỗ trợ pháp lý, kỹ thuật, đào tạo nhân lực, môi trường, thông tin, quảng bá sản phẩm, sự phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền…

 - Cần đẩy mạnh công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và đặc biệt là cho đặc sản sản (phối hợp với các địa phương và trên phạm vi toàn quốc). Nếu công tác bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được thực hiện quyết liệt và có hiệu quả, các nhà sản xuất/ kinh doanh đặc sản có thể yên tâm đầu tư, sản suất/kinh doanh, quyết định giá bán sản phẩm phù hợp mà không còn e ngại về hàng giả, hàng kém chất lượng và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể làm giảm uy tín của sản phẩm của họ và làm lũng đoạn thị trường.

3.2 Ở cấp địa phương

- Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập và hỗ trợ thành lập tổ chức tập thể  đồng thời cho phép tổ chức này đăng ký và quản lý chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thể chỉ định một cơ quan cấp dưới (Uỷ ban nhân dân huyện/xã) hoặc một cơ quan chuyên môn (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) của mình đăng ký và quản lý chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận.

- Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương thông qua các cơ quan chuyên môn của mình kiểm tra giám sát hoạt động của tổ chức tập thể nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các thành viên thuộc tổ chức.

- Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương thông qua các cơ quan chuyên môn của mình hoặc thành lập tổ chức riêng để kiểm soát chất lượng và nguồn gốc sản phẩm do các thành viên của tổ chức tập thể sản xuất.

- Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương xây dựng các chính sách hỗ trợ sản xuất, quảng bá sản phẩm và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các đặc sản thuộc địa phương.

3.3 Đối với các nhà sản xuất/kinh doanh

Để bảo vệ chất lượng và danh tiếng cho các đặc sản của mình, các nhà sản xuất/kinh doanh tại địa phương nên cùng tập hợp nhau lại trong một tổ chức tập thể (ví dụ một Hiệp hội) để tập trung sức mạnh, thống nhất chiến lược/kế hoạch từng bước xây dựng thương hiệu cho các đặc sản của mình.

Để thành lập được Hiệp hội các nhà sản xuất, trước hết cần phải tuyên truyền để người dân, các nhà sản, kinh doanh xuất ý thức được vai trò của việc bảo vệ tài sản trí tuệ liên quan đến sản phẩm của mình và ý thức được lợi ích của việc thành lập và tham gia Hiệp hội các nhà sản xuất. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể tạo lập cho mình các nhãn hiệu riêng đồng thời tham gia vào các Hiệp hội sản xuất để tận dụng nhiều lợi thế đưa lại từ cộng đồng. Để các Hiệp hội này thành lập và hoạt động hiệu quả, trước hết cần đến tinh thần đoàn kết, hợp tác giữa các nhà sản xuất sau đó mới cần đến chiến lược phát triển đúng đắn của Hiệp hội.

Sau khi đã thành công trong việc thành lập các Hiệp hội, các địa phương cần phải cân nhắc để lựa chọn hình thức xác lập quyền cho sản phẩm mang tên địa danh của địa phương mình. Nếu sản phẩm đã có danh tiếng trên thị trường và có các tính chất chất lượng đặc thù được quyết định bởi điều kiện địa lý, địa phương có thể bảo hộ địa danh theo hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Đối với các sản phẩm không đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ theo hình thức chỉ dẫn địa lý, có thể lựa chọn hình thức bảo hộ nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.

Tuỳ theo từng hình thức đăng ký, tổ chức tập thể cần phải xây dựng quy chế  sử dụng đối tượng này, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm phù hợp.

Nguồn: Lưu Đức Thanh, Cục Sở hữu trí tuệ

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập