Tổng kết 10 năm thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Người đăng tin: Chi Thị Phương Đặng Ngày đăng tin: 14/07/2017 Lượt xem: 63

Sở Khoa học và Công nghệ báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006 - 2016

I. VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TRIỂN KHAI

1. Tình hình phổ biến, triển khai thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về sở hữu trí tuệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức cho các cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố. Trong giai đoạn 2006 - 2016, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai khoảng 66 lượt đào tạo, tuyên truyền pháp luật sở hữu trí tuệ (trung bình 6,6 lượt/năm) với nhiều hình thức đa dạng (tập huấn, hội thảo, hội nghị, tọa đàm, cuộc thi, chương trình truyền hình), thu hút sự tham gia của hơn 5.600 học viên và sự quan tâm đón nhận của đông đảo khán giả xem truyền hình, 02 đợt in ấn và phát hành tờ rơi, poster với hơn 5.300 tờ rơi và 850 poster gửi các sở, ban, ngành, UBND các quận/huyện, tổ chức chính trị - xã hội, trường học, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Với nội dung phong phú, gắn liền với thực tiễn hoạt động sở hữu trí tuệ của thành phố, hình thức đa dạng, hoạt động tuyên truyền về sở hữu trí tuệ đã dễ dàng tiếp cận các cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố, thực hiện mục tiêu tuyên truyền, phổ biến sâu rộng kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về tầm quan trọng của việc bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Số lượng cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tăng trung bình 2 - 3%/năm.

Tuy nhận thức của các doanh nghiệp về vai trò và tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ đã không ngừng được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế. Số lượng đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hằng năm của thành phố Đà Nẵng vẫn ở mức thấp, chỉ đứng thứ 6 toàn quốc, thấp hơn 1,9 lần so với Bình Dương, 19,2 lần so với Hà Nội và 24,5 lần so với thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tình hình xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ

Hệ thống văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của thành phố Đà Nẵng đã sớm được ban hành và triển khai thực hiện từ năm 2007. Xác định hoạt động xây dựng văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan ban hành và tham mưu UBND thành phố ban hành 07 văn bản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ[1]. Đây là các hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Trung ương, góp phần tích cực tạo hành lang pháp lý, là công cụ hiệu quả cho lực lượng chức năng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Việc tham gia góp ý các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương có nội dung liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng được các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thực hiện đầy đủ và trách nhiệm khi có yêu cầu.

3. Công tác phối hợp quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Trong giai đoạn 2006 - 2016, các cơ quan chức năng đã phối hợp xử lý 753 vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với tổng số tiền phạt trên 11 tỷ đồng, hơn 26.000 sản phẩm bị xử lý, góp phần từng bước lành mạnh hoá môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên địa bàn thành phố.

Hầu hết các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, 751/753 vụ (trong đó: chủ yếu là vi phạm quyền đối với nhãn hiệu: 722 vụ, chiếm 96,14%; kiểu dáng công nghiệp: 9 vụ, chiếm 1,2%; sáng chế và giải pháp hữu ích: 14, chiếm 1,86%; các vụ vi phạm khác: 6 vụ, chiếm 0,8%). Số vụ vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan thấp, 02 vụ. Chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm quyền đối với giống cây trồng.

Nhìn chung, các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có xu hướng tăng dần qua các năm, trung bình tăng 25,5%/năm. Diễn biến các vụ việc ngày càng phức tạp về tính chất, mức độ và phạm vi xâm phạm. Một số vụ việc phức tạp, kéo dài đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành để giải quyết, trưng cầu ý kiến chuyên môn của cơ quan Trung ương hoặc giải quyết bằng biện pháp dân sự tại Tòa án (09 vụ).

II. MỘT SỐ BẤT CẬP VỀ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1. Về chủ sở hữu, nội dung, phạm vi quyền sở hữu trí tuệ

- Việc tổ chức hoạt động và cơ chế tài chính chi trả cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ ủy quyền của các đại diện tập thể quyền chưa rõ ràng; Định mức thu phí tác quyền là do các đại diện tập thể quyền tự xây dựng, thiếu tính thuyết phục, gây nhiều thắc mắc cho các cá nhân, tổ chức thực thi.

 - Nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ chưa phù hợp, cần xem xét, sửa đổi thành "Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt, lắp ghép hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào".

2. Về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

a) Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

- Hệ thống văn bản quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả còn tản mạn, quy định trong nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và thực thi.

- Đối với vấn đề "Yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phần mềm", việc trưng cầu được Hội đồng giám định để xác định một hoặc các phần mềm có là bản sao/tác phẩm phái sinh của tác phẩm phần mềm được bảo hộ là rất khó khăn và mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả giám định, thời gian giải quyết vụ án kéo dài.

b) Quyền sở hữu công nghiệp

- Trường hợp tên miền có yếu tố trùng với nhãn hiệu được bảo hộ, tên miền có thể bị thu hồi và ưu tiên cho chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký sử dụng. Tuy nhiên, thời hạn ưu tiên đăng ký chỉ được ấn định trong vòng 10 ngày liên tục kể từ khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là quá ngắn, hạn chế quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu (Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008).

- Các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao, khai thác, sử dụng các quyền của chủ sở hữu đối với quyền về sở hữu trí tuệ chưa được quy định rõ hình thức bằng văn bản. Các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chưa được thông báo các thông tin về chuyển giao, chuyển nhượng để phục vụ công tác quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp.

- Đối với hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp xóa dấu hiệu xâm phạm có trên bao bì của sản phẩm rồi trao trả cho cá nhân, tổ chức xâm phạm không có tính răn đe đối với các cơ sở xâm phạm.

3. Các tổ chức bổ trợ cho hoạt động sở hữu trí tuệ

- Cơ chế chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả chưa đầy đủ, năng lực quản lý, thực thi chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; Phạm vi, đối tượng của các tổ chức đại diện tập thể còn chồng chéo, dẫn đến tình trạng các cá nhân, tổ chức khai thác và sử dụng cùng một lúc phải chi trả tiền các tác quyền nhiều lần gây bức xức trong dư luận.

- Hiện nay chưa có Hội đồng giám định chuyên ngành về lĩnh vực sở hữu trí tuệ để giúp Tòa án trong việc giám định giải quyết các vụ án liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

- Đối với các vụ việc có tính chất phức tạp đòi hỏi phải trưng cầu giám định hoặc ý kiến chuyên môn của cơ quan nhà nước về sở hữu trí tuệ thì giá trị của kết quả giám định và ý kiến chuyên môn này chưa cao, chỉ mang tính chất tham khảo chứ không phải cơ sở để cơ quan thụ lý căn cứ xử lý vụ việc.

4. Các nội dung đánh giá theo lĩnh vực đặc thù của ngành

- Luật Sở hữu trí tuệ chưa có các quy định hướng dẫn cụ thể về các trường hợp trùng/tương tự gây nhầm lẫn trong tên doanh nghiệp, một số quy định về tên riêng của doanh nghiệp có sự mâu thuẫn với các quy định của Luật Doanh nghiệp.

- Việc tra cứu tên doanh nghiệp phải thực hiện trên 02 hệ thống (Hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia và Cơ sở dữ liệu của Cục Sở hữu trí tuệ) mất nhiều thời gian và chưa đồng bộ thống nhất.

III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1. Các giải pháp hoàn thiện thể chế

- Hệ thống hóa, cụ thể hóa các quy định của pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả để tạo sự minh bạch, thuận tiện cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và thực thi. Quy định cụ thể việc tổ chức hoạt động và cơ chế tài chính chi trả cho các tác giả ủy quyền của các đại diện tập thể quyền.

- Đề nghị xem xét, điều chỉnh các quy định về việc thời hạn ưu tiên đăng ký tên miền chứa nhãn hiệu đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, biện pháp xử lý hàng hóa xâm phạm quyền, tính pháp lý của các kết quả giám định và ý kiến chuyên môn của cơ quan nhà nước về sở hữu trí tuệ.

- Đề nghị xem xét, điều chỉnh cho tương thích quy định về đặt tên doanh nghiệp trùng/tương tự gây nhầm lẫn tại Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ.

- Đối với các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao, khai thác, sử dụng các quyền của chủ sở hữu đối với quyền về sở hữu trí tuệ, cần quy định rõ hình thức bằng văn bản, có chứng thực và phải thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước biết về việc chuyển giao, chuyển nhượng để tạo sự thuận lợi trong công tác quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp.

- Cần xây dựng chế định về xác định thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vì các quy định của Bộ luật Dân sự về xác định thiệt hại chưa cụ thể hóa được từng lĩnh vực cụ thể đối với quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự quy định người yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh nhưng không có căn cứ để xác định giá trị thiệt hại thực tế do quy định của pháp luật chưa được cụ thể hóa cho đặc thù lĩnh vực sở hữu trí tuệ

2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác thực thi quyền

- Thành lập Hội đồng giám định chuyên ngành về lĩnh vực sở hữu trí tuệ để góp phần giúp Tòa án thuận lợi hơn trong việc yêu cầu giám định khi giải quyết các vụ án liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Đây là yêu cầu bức thiết nhất trong giai đoạn hiện nay vì kết quả giám định quyết định rất lớn đến quan điểm áp dụng pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

- Cục Sở hữu trí tuệ chia sẻ dữ liệu doanh nghiệp đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tự động cập nhật vào Hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia nhằm tạo điều kiện để tra cứu tên và hướng dẫn đặt tên doanh nghiệp thống nhất trong toàn quốc.

 


[1] a) Cấp thành phố

- Quyết định số 7326/QĐ-UBND ngày 23/10/2006 của UBND thành phố về ban hành Chương trình hành động về hợp tác phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2006 - 2010.

- Chỉ thị số 19/2007/CT-UBND ngày 29/8/2007 của UBND thành phố về tăng cường công tác quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của UBND thành phố về Quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Kế hoạch số 10582/KH-UBND ngày 12/12/2012 của UBND thành phố về phối hợp hành động phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012 - 2015.

- Quyết định số 692/QĐ-UBND ngày 24/01/2014 về việc ban hành “Quy chế phối hợp liên ngành trong hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

b) Cấp ngành/liên ngành

- Quy chế phối hợp liên ngành số 01/KH&CN-CA-HQ-TM ngày 08/02/2007 giữa Sở KH&CN, Công an, Cục Hải Quan và Sở Công Thương về phối hợp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Quyết định số 110/QĐ-STSNL ngày 27/3/2007 của Sở Thủy sản Nông Lâm về hợp tác chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về giống cây trồng.

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập