Giáo sư Nguyễn Đình Tứ - Người sáng lập và lãnh đạo đầu tiên ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 10/09/2007 Lượt xem: 19

Giáo sư Nguyễn Đình Tứ quê gốc ở xã Sông Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1932 trong một gia đình nhà giáo. Từ khi cắp sách đến trường đến giữa năm 1951, trải qua các nhà trường tiểu học và trung học phổ thông ở Bình Định và Nghệ Tĩnh, Giáo sư nổi tiếng học giỏi, thông minh và đam mê khoa học. Giáo sư tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong thời học phổ thông, kết nạp năm 1949 và chuyển thành đảng viên chính thức năm 1950. Như vậy, năng lực bẩm sinh về khoa học tự nhiên và ý thức rõ ràng về trách nhiệm với đất nước và xã hội đã rất sớm thể hiện và chi phối cuộc đời của Giáo sư.Từ giữa năm 1951 đến giữa năm 1957, được Nhà nước cử sang học ở Trung Quốc, sau khoá Khoa học chuyên ban 2 năm (1951-1953), lớp Trung văn 1 năm (1953-1954), Giáo sư Nguyễn Đình Tứ theo học ngành Thuỷ lợi - Thuỷ điện ở Đại học Vũ Hán, tốt nghiệp loại ưu và được đề nghị chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Nhưng ở đây, một bước ngoặt lớn đã đến. Nhà nước đã chọn cử Giáo sư lãnh đạo một nhóm gồm 3 thanh niên ưu tú sang cộng tác nghiên cứu ở Viện Liên hợp Nghiên cứu Nguyên tử Đúpna (một thành phố khoa học cách Mascơva khoảng 150 km về phía Bắc), một trung tâm khoa học lớn của các nước XHCN bấy giờ. Từ tháng 8 năm 1957, Giáo sư trở thành cộng tác viên khoa học trẻ của Phòng Thí nghiệm Năng lượng cao. Tại đây, dưới sự lãnh đạo của Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô Vesler, người đề xuất nguyên lý và chỉ đạo xây dựng thành công ở Đúpna máy gia tốc Synchrophasotron tiên tiến nhất thời bấy giờ, nhà khoa học Nguyễn Đình Tứ đã cùng với các nhà khoa học khác của các nước XHCN tiến hành nhiều nghiên cứu có giá trị về vật lý hạt cơ bản. Bước vào một lĩnh vực cao về tri thức ấy, GS. Nguyễn Đình Tứ chủ yếu tự học; về chuyên môn và cả về tiếng Nga. Trong một thời gian ngắn, Giáo sư đã làm chủ các phương pháp thực nghiệm, nắm bắt khá sâu sắc những kiến thức vật lý lý thuyết cần thiết và đi tiên phong trong sử dụng công cụ máy tính. Giáo sư đã đóng góp xuất sắc trong những thành tựu nghiên cứu của tập thể khoa học quốc tế và trong hơn 50 công trình khoa học đã công bố. Trong hơn 10 năm với hai thời kỳ (8.1957-6.1963 và 6.1966-6.1971) sống và làm việc ở Đúpna, Giáo sư nổi tiếng là nhà Vật lý Việt Nam tài năng, có uy tín khoa học tẫm cỡ quốc tế. Chính Nguyễn đình Tứ ở tuổi 30, thay mặt nhóm phát minh trực tiếp báo cáo ở diễn đàn Hội nghị Khoa học Quốc tế ở Tây Âu các kết quả phát minh: Phát hiện bằng thực nghiệm hiện tượng chưa biết trước đây về sự tạo thành phản hạt Hyperon Sigma âm; với khối lượng 2340 lần lớn hơn khối lượng Electron, tích điện dương, thời gian sống bằng một phần mười tỉ giây và về sự phân rã thành các hạt pi-meson dương và phản nơtron. Đánh giá công lao đóng góp vào sự kiện trên, năm 1961, ngay sau khi công bố công trình, tác giả Nguyễn Đình Tứ cũng đã nhận được giải thưởng của Hội đồng Khoa học của Viện Liên hợp Nghiên cứu Nguyên tửĐúpna và năm 1968 được Chính phủ Liên Xô cấp bằng phát minh cùng với nhóm tác giả quốc tế.

Trong năm 2000, kỷ niệm 55 thành lập nước CHXHCN Việt Nam, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký quyết định trao phần thưởng cao quý, giải thưởng Hồ Chí Minh cho Giáo sư Nguyễn Đình Tứ về “Cụm Công trình phát hiện phản hạt Hyperon sigma âm và tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao”.

Ngay trong những năm tháng bận rộn ở Phòng thí nghiệm Năng lượng cao Đúpna, nhà vật lý Việt Nam đã quan tâm, giành thời gian tìm hiểu một lĩnh vực khác có quan hệ với tương lai của đất nước: Năng lượng nguyên tử. Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, trong những năm cuối thập kỷ 60, đã tổ chức nhiều buổi thuyết trình trong tập thể khoa học Việt Nam ở Đúpna do mình phụ trách những vấn đề về tin học, về kỹ thuật lò phản ứng và điện nguyên tử.

Chia tay với những đề án thí nghiệm dở dang trên máy gia tốc hiện đại ở Secpukhôp, tháng 7 năm 1971, Nguyễn Đình Tứ trở về nước. Dù bận rộn những trọng trách ở ngành giáo dục đại học, Giáo sư vẫn giành nhiều tâm lực cho việc hình thành ngành năng lượng nguyên tử của đất nước. Sau 5 năm chuẩn bị, tập hợp nhiều cán bộ vật lý hạt nhân có năng lực và tâm huyết, từ một phòng nghiên cứu thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước do Giáo sư lãnh đạo, tháng 4 năm 1976, Chính phủ đã thành lập Viện Nghiên cứu hạt nhân trực thuộc UBKHKTNN và sau đó, tháng 6 năm 1984 chuyển thành Viện Năng lượng Nguyên Tử Quốc gia, trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Giáo sư được giao nhiệm vụ Viện trưởng từ những ngày mới thành lập Viện. Năm 1994, khi Viện đổi tên là Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Giáo sư vẫn là người lãnh đạo cao nhất của ngành trong cương vị Chủ tịch Hội đồng Viện cho đến khi qua đời.

Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam, trong gần 20 năm đầu tiên, đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Lò phản ứng Đà Lạt đã khôi phục và mở rộng. Công nghệ chiếu xạ được triển khai thí điểm ở Đà Lạt, Hà Nội và mở rộng trên quy mô sản xuất ở TP. Hồ Chí Minh. Các ứng dụng khoa học và kỹ thuật hạt nhân trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân đã được phát triển rộng rãi. Hợp tác quốc tế được mở rộng theo hướng đa phương và song phương, các hiệp định quốc tế thể hiện chủ trương sử dụng năng lượng nguyên tử vì hoà bình được ký kết. Các cán bộ khoa học có trình độ đã được tập hợp và phát huy và nhiều cán bộ khoa học trẻ được đào tạo và trưởng thành. Với uy tín cao của mình, Giáo sư đã mở đường và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), với Liên Xô, Cu Ba, Ấn Độ, Nhật Bản và các mối quan hệ đó ngày càng phát triển.

Ngoài lãnh đạo chung, Giáo sư cũng tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học trong cương vị chủ nhiệm các Chưng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước. Đó là Chương trình 50B tập trung định hướng vào nguyên vật liệu hạt nhân (1986-1990) và Chương trình KC.09 về khoa học và công nghệ hạt nhân (1991-1995). Kết quả là các ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân trong các lĩnh vực khác nhau, trước hết là trong y tế và trong công nghệ khử trùng và bảo quản được mở rộng. Đặc biệt, sự quan tâm nhiều năm của Giáo sư về Điện nguyên tử đã phát triển thành “Dự án nghiên cứu đưa điện nguyên tử vào Việt Nam” do Bộ Công nghiệp chủ trì.

Giáo sư Nguyễn Đình Tứ tham gia nhiều hoạt động xã hội và giữ nhiều trọng trách khác nhau trong Nhà nước và Trung ương Đảng. Trong ngành Giáo dục và đào tạo, với tư cách là Phó Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (7.1971-3.1976), Thứ trưởng (4.1976-6.1976) và Bộ trưởng (6.1976-2.1987) Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Giáo sư đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo cán bộ cho đất nước. Trong đó, nổi bật về sự chỉ đạo xây dựng mạng lưới đào tạo trong toàn quốc và tổ chức chi viện hỗ trợ các trường phía Nam sau khi thống nhất đất nước, về tổ chức thí điểm và triển khai đào tạo sau đại học, về chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống, và mở đầu khai phá tìm ra chủ trưng đổi mới giáo dục và đào tạo trong tình hình mới. Giáo sư là đại biểu quốc hội khoá 8, là Uỷ viên Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật của Quốc hội. Từ năm 1976, Giáo sư được bầu vào Trung ưng Đảng, sau đó giữ những cương vị Bí thư TƯ, Trưởng ban Khoa giáo (Đại hội VII) và Uỷ viên Bộ Chính trị (ĐH VIII).

Cùng với Giải thưởng Khoa học Công nghệ Hồ Chí Minh, Huân chương Lao động Hạng Nhất là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đối với những đóng góp to lớn của Giáo sư Nguyễn Đình Tứ trong sự nghiệp chung của đất nước, trong đó có sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam.

PGS. TS. Trần Thanh Minh

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập