Xây dựng chính sách nhập công nghệ
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 25/01/2007 Lượt xem: 8

Gắn kết chính sách KHCN phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Kể từ khi có chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các DN đầu tư vào hoạt động KHCN bằng Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 đến nay, ngoài Luật CGCN và Nghị quyết Trung ương về KHCN có tính định hướng và khái quát, các quy định về hoạt động nhập khẩu và chuyển giao công nghệ vào Việt Nam nằm rải rác trong các văn bản luật như Luật đầu tư (Chương 5: Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư), Đề án Phát triển thị trường công nghệ theo QĐ 214/2005/QĐ-TTg, Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm (2006-2010) theo QĐ số 236/2006/QĐ-TTg,… do đó, các quy định việc nhập khẩu công nghệ vừa không mang tính hệ thống, vừa gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, khó thực thi các mục tiêu kinh tế xã hội lớn của đất nước như phát triển sản phẩm quốc gia, nâng cao năng lực KHCN nội sinh… Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Đình Tiến, việc xây dựng chính sách nhập công nghệ phải là bước cụ thể hoá Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học công nghệ, gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời các quy định trong chính sách phải vừa cụ thể, gắn chặt với thực tiễn của đất nước, vừa thu hút nhập khẩu các công nghệ mới, tiên tiến của nước ngoài nhưng vẫn khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy năng lực nội sinh làm chủ và đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng R&D trong các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng khu vực nông thôn miền núi có cơ hội tiếp cận và chọn được công nghệ phù hợp. Hơn nữa, theo ông Hoàng Ngọc Doanh - Viện Chiến lược chính sách Bộ KH&CN (CLCS), chính sách nhập công nghệ cần theo định hướng của Nghị Quyết Trung ương II của BCT, đó là ưu tiên nhập công nghệ phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ có thể mở ra rất nhiều các ngành nghề và công nghệ tạo ra một hướng phát triển mới mang tính đột phá. Hơn nữa, chính sách cần đảm bảo tránh nhập chồng chéo các loại công nghệ gây lãng phí và Nhà nước cần có biện pháp phát huy và lan toả các công nghệ nhập tiên tiến trong nền kinh tế.

Doanh nghiệp là chủ thể thực hiện

Theo ông Đặng Duy Thịnh - Phó Viện trưởng Viện CLCS thì chính sách nhập công nghệ cần nêu bật vai trò chủ thể của Doanh nghiệp (DN). Bởi chính DN mới là người quyết định nhập công nghệ nào, là người làm chủ, nắm bắt và phát triển công nghệ. Nhà nước không thể làm thay DN mà chỉ có thể hỗ trợ họ thông qua đào tạo nâng cao năng lực R&D của doanh nghiệp và các chính sách tài chính như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn đầu tư đổi mới công nghệ.

Ngoài ra, theo ông Nguyễn Thanh Hà - Viện CLCS, DN sẽ tự chịu trách nhiệm nhập công nghệ căn cứ theo tín hiệu của thị trường và chiến lược kinh doanh của DN, Nhà nước chỉ đứng ra hỗ trợ cho DN nếu thấy cần thiết. Nên tránh quan điểm kế hoạch hóa tập trung khi xây dựng chính sách. Vì vậy chính sách cũng phải phù hợp với nền kinh tế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ

Theo ông Nguyễn Văn Thu - Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển - chúng ta cần đi tắt đón đầu các công nghệ mới, tiên tiến của nước ngoài, tránh phải nghiên cứu lại những cái đã có. Muốn vậy Nhà nước cần có chính sách thu hút, đặc biệt cần phải có chính sách hỗ trợ, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, nhất là nhân lực trong hai khu vực ưu tiên là cộng đồng DN vừa và nhỏ và khu vực nông thôn miền núị Nguồn nhân lực trong nước cao hơn không chỉ giúp các đối tác đầu tư công nghệ giảm chi phí đào tạo, tăng lợi thế cạnh tranh thu hút đầu tư với các quốc gia như Thái Lan, Malaysia… Giống như tập đoàn Intel quyết định đầu tư vào Việt Nam mà còn giúp chúng ta dễ dàng làm chủ công nghệ ngoại nhập.

Bên cạnh đó, Ông Trần Phương Hiển - Vụ phó Vụ Đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ cho rằng, nên lợi dụng các dự án đầu tư trong nước để nâng cao năng lực công nghệ nội sinh. Muốn vậy, cần xác định rõ nhiệm vụ cho lực lượng KHCN trong nước đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là khuyến khích các dự án xây dựng các công trình sử dụng các công nghệ mới tiên tiến của nước ngoài do Việt Nam làm tổng thầu như trong các dự án xây cầu dây văng nhịp lớn Bãi Cháy, nhà máy điện Uông Bí, nhà máy xi măng Bỉm Sơn 2…, bởi khi có cơ hội tiếp cận, Việt Nam hoàn toàn làm chủ được công nghệ mới của nước ngoàị Ngoài ra, chính sách cũng cần quy định một khoản chi phí nằm trong nguồn vốn đầu tư của dự án dành cho việc nghiên cứu và làm chủ công nghệ.

Về vai trò can thiệp của Nhà nước với đối tượng chịu điều chỉnh của chính sách, ông Nguyễn Bảo Hùng - Vụ phó Vụ Pháp chế cho rằng, chính sách cần chú ý đến trường hợp nhập những thành phần công nghệ để nâng cao hiệu quả đồng vốn nhập công nghệ của Nhà nước. Với khu vực tư nhân, chính sách chỉ mang tính định hướng và khuyến khích, hỗ trợ. Nhưng với khu vực Nhà nước, cần phải có thêm chiến lược nhập khẩu khôn ngoan, xác định thành phần nào, công nghệ nào cần nhập để chúng ta có được công nghệ với số tiền bỏ ra ít nhất. Hơn nữa cũng phải chú ý quy định công nghệ được nhập đang ở thời điểm nào của vòng đời phát triển, tránh bị lạc hậu.

(Theo Báo Khoa học và Phát triển)

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập