Đánh giá hiệu quả giải pháp thay thế bóng đèn chiếu sáng hiệu suất cao và khuyến nghị một số giải pháp chiếu sáng học đường
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 04/12/2006 Lượt xem: 82

I. Đặt vấn đề:

Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khoẻ cho mọi người, đặc biệt là học sinh tại các trường học là mối quan tâm lớn của mỗi gia đình và toàn xã hội. Vấn đề vệ sinh y tế học đường tại các trường học và gia đình là những yếu tố có tác động rất to lớn và trực tiếp đến tình hình sức khoẻ học sinh, trong đó có vấn đề chiếu sáng học đường.

Theo số liệu điều tra, khảo sát tình hình cận thị trong lứa tuổi học sinh vào năm 2003 của Sở Giáo dục và Sở Y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy, tỷ lệ cận thị trong lứa tuổi học sinh là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm (xem các bảng mô tả dưới đây).

Cấp học

Số lượng học sinh điều tra

Số lượng học sinh cận thị

Tỷ lệ %

Tiều học

1002

111

11,08

Trung học cơ sở

500

51

10,20

Trung học phổ thông

248

56

22,58

Tổng cộng

1750

218

12,46

Tỷ lệ học sinh mắc cận thị chung là 12,46%, trong đó tỷ lệ học sinh mắc cận thị ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở xấp xỉ 10%, nhưng đối với học sinh cấp trung học phổ thông, tỷ lệ này tăng gấp đôi (22,58%). Kết quả này là một dấu hiệu dự báo sự gia tăng tỷ lệ cận thị trong học sinh vào những năm tới nếu chúng ta không có những biện pháp ngăn ngừa thích hợp và kịp thời.

So sánh với số liệu của Bộ Y tế công bố tỷ lệ cận thị ở cấp tiểu học là 0,65%, cấp trung học cơ sở là 1,6%, trung học phổ thông đã lên tới 8,12% thì tỷ lệ cận thị của học sinh thành phố Đà Nẵng hiện nay cao hơn nhiều.

Tỷ lệ cận thị ở học sinh thành phố Đà Nẵng tăng dần theo cấp học. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu trong nước như theo báo cáo của Viện Mắt Trung ương, tỷ lệ cận thị của học sinh cấp II là 12% và học sinh cấp III là 25-29%.

Nguyên nhân của cận thị ngoài yếu tố di truyền, còn bao gồm các yếu tố liên quan như ánh sáng, kích thước lớp học, bàn ghế, bảng, tư thế ngồi, xem tivi, chơi điện tử,.. trong đó yếu tố ánh sáng trong lớp học cũng đóng vai trò quan trọng.

II. Hiện trạng chiếu sáng học đường tại các trường:

Hiện tại, Thành phố Đà Nẵng có hơn 150 trường học từ cấp I đến cấp III trải đều trên các quận huyện. Tại các trường học này, hầu hết các phòng học có số lượng bóng đèn lắp đặt từ 5-8 bóng, diện tích phòng từ 40-55m2. Căn cứ tiêu chuẩn của Bộ y tế số 1221/2000/QĐ-BYT ngày 18/4/2000 quy định độ rọi tối thiểu trong lớp học là 100lux và TCVN 7114:2002 về chiếu sáng học đường thì độ rọi cho phép từ 300-500lux. Trung tâm Y tế dự phòng đã khảo sát về độ chiếu sáng của các phòng học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, số lượng phòng học đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường chỉ chiếm 55,83%. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Y tế dự phòng, học sinh tại các phòng học có độ chiếu sáng không đảm bảo tiêu chuẩn cho phép có nguy cơ mắc cận thị gấp 2,27 lần so với học sinh học tập tại các phòng học có điều kiện chiếu sáng đầy đủ.

Tuy nhiên, tại một số trường học, mặc dầu đã lắp đặt hệ thống chiếu sáng đảm bảo nhưng do chủ quan của giáo viên, học sinh, đa số cảm nhận phòng học đã đủ ánh sáng hoặc do tiết kiệm điện, không bật đèn nên ở các trường này học sinh mắc cận thị chiếm tỷ lệ rất cao.

Để có cơ sở đánh giá, đề xuất các biện pháp chiếu sáng hiệu quả trong học đường, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp cùng Sở Giáo dục & Đào tạo, Sở Y tế và Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông đã tiến hành điều tra, khảo sát và lắp đặt thí điểm bóng đèn tiết kiệm điện và chiếu sáng học đường hiệu suất cao ở một số phòng học tại các trường Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trãi, Bế Văn Đàn và Mầm Non 20-10 trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.

III. Lắp đặt bóng đèn chiếu sáng hiệu suất cao

Để đánh giá chính xác hiệu quả thay thế, chúng tôi đã sử dụng máy đo độ rọi (Lux meter) và tính toán lượng tiêu thụ điện năng cho mỗi phòng học tương ứng trước và sau khi lắp bóng đèn chiếu sáng học đường hiệu suất cao.

- Trường Hoàng Hoa Thám (Phòng học số 15 )

Thay các bộ đèn huỳnh quang thông thường có công suất 50w (40w/bóng huỳnh quang + 10w ballast) bằng các bộ đèn chiếu sáng hiệu suất cao huỳnh quang 3 phổ 39w FLD-T8 có máng chụp của Rạng Đông.

Trước khi lắp đặt bộ đèn chiếu sáng hiệu suất cao

Sau khi lắp đặt bộ đèn chiếu sáng hiệu suất cao

Số lượng bộ đèn (bộ đơn)

10

13

Diện tích phòng (m2)

48

48

Công suất mỗi bộ đèn (w)

50

39

So sánh về độ rọi (lux): Dùng máy đo độ rọi đo tại các vị trí như sau: Bảng đen 1 vị trí, bàn giáo viên 1 vị trí và 20 vị trí trên các bàn học sinh, kết quả đo độ rọi trung bình trước và sau khi lắp đặt bóng đèn hiệu suất cao như sau:

Đèn huỳnh quang thường T10

Đèn huỳnh quang hiệu suất cao T8

Độ rọi (lux)

TCVN 7114:2002

Kết quả

Độ rọi (lux)

TCVN 7114:2002

Kết quả

85

>300 lux

Không đạt

395

>300 lux

Đạt

- Tương tự cho các trường Nguyễn Trãi, Bế văn Đàn và Mần non 20-10, kết quả tổng hợp ở bảng dưới đây:

Qua số liệu khảo sát, đo đạc ở bảng trên cho thấy: trước khi lắp đặt tất cả các phòng đều có độ rọi từ 76-178 lux không đảm bảo so với tiêu chuẩn cho phép từ 1.7 đến 3.8 lần, với 5-9 m2/bóng. Sau khi lắp đặt, tất cả các phòng đều có độ rọi từ 395-480 lux, đảm bảo và cao hơn độ rọi cho phép từ 1.3 – 1.6 lần, với 5-9 m2/bóng. Bên cạnh độ rọi đảm bảo, mức tiêu thụ điện cho 1 bóng đèn cũng giảm rõ rệt. Tuy nhiên, để đạt được độ rọi theo tiêu chuẩn cho phép lượng điện tiêu thụ cho một phòng trước và sau lắp đặt có tăng lên ở một số phòng. Lượng điện tiêu thụ bình quân cho 1 phòng để đạt được độ rọi theo tiêu chuẩn cho phép (≥300 lux) là 0.5kwh

So sánh về chi phí đầu tư, lượng điện tiết kiệm cho mỗi bộ đèn:

Các loại chi phí

Đèn huỳnh quang T10

Đèn huỳnh quang T8

Chi phí lắp đặt 1 bộ đèn (đ/bộ)

120.000

200.000

Tuổi thọ bóng (giờ)

8.000

12.000

Công suất mỗi bộ đèn (w)

50

39

Lượng điện tiết kiệm trong 1 giờ: 50-39 = 11 (wh)

Giả sử phòng học sử dụng đèn 4 giờ một ngày, mỗi tháng 20 ngày, mỗi năm 10 tháng. Vậy lượng điện tiết kiệm trong 1 năm của 1 bóng đèn là:

11*10*20*04 = 8.800 w/năm » 9 kw/năm.

Nhận xét:

Qua các bảng tổng hợp so sánh nêu trên chúng tôi nhận thấy, với bóng đèn chiếu sáng hiệu suất cao, dù chi phí thay thế lớn nhưng công suất tiêu thụ nhỏ, tuổi thọ của bóng dài và bền hơn. Mặc khác, vấn đề quan trọng là bóng được sử dụng bột 3 phổ triphosphor làm tăng hiệu suất đèn, độ suy giảm quang thông chậm, tăng chỉ số hiện màu, ánh sáng mịn, độ rọi đạt theo tiêu chuẩn cho phép. Vì vậy, giảm được nguy cơ các bệnh về mắt.

IV. Một số khuyến nghị chiếu sáng học đường

Hiện nay, hầu hết các trường học đang sử dụng các bộ đèn huỳnh quang thông thường có công suất 50w, việc lắp đặt chưa có thiết kế cụ thể, đèn treo trên trần, quạt treo dưới đèn. Do đó, độ rọi không đạt và có bóng quạt dưới bàn học sinh dẫn đến tình trạng mắt học sinh bị mỏi, lâu ngày ảnh hưởng đến thị lực.

Qua quá trình lắp đặt, theo dõi, Sở Khoa học và Công nghệ đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong chiếu sáng học đường như sau:

- Bộ Y tế và Bộ Giáo dục & Đào tạo cần có sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn chiếu sáng học đường.

- UBND thành phố chỉ đạo cho các ngành chức năng như Sở Tài chính, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Xây dựng, Sở GD&ĐT đưa các vấn đề chiếu sáng học đường vào ngay khi thiết kế dự án đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho học tập của học sinh. Quá trình thiết kế chiếu sáng nhân tạo phải kết hợp với chiếu sáng tự nhiên.

- Sử dụng kính trắng làm của sổ để lấy ánh sáng mặt trời vào ban ngày.

- Quét vôi tường có màu sáng để tăng độ sáng cho phòng.

- Lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng học đường phải thấp dưới quạt trần.

- Sử dụng bộ đèn chiếu sáng hiệu suất cao: Bột 3 phổ chống cận thị, máng đèn phản chiếu ánh sáng (không sử dụng máng Inox gây chói mắt).

- Khi phòng học không đủ ánh sáng, nên bật đèn kể cả ban ngày.

- Khẩu độ treo bóng bình quân từ 2.8-3 m.

Số mét vuông cho 1 bóng T8: 4-5m2/1bóng T8.

Huỳnh Anh Hoàng

Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập