QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀ NẴNG 10 NĂM NHÌN LẠI
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 22/11/2006 Lượt xem: 10

HOẠT ĐỘNG CHẤT LƯỢNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG MƯỜI NĂM NHÌN LẠI (1996-2005)

KS. Nguyễn Anh Tuấn

Chi cục trưởng Chi cục TC ĐL CL Đà Nẵng

Hội nghị chất lượng Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 8 năm 1995 tại Hà Nội. Tại Hội nghị này, Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Bình đã đến dự và phát động thập niên chất lưọng lần thứ nhất 1996-2005. Kể từ đó phong trào năng suất chất lượng nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, các hoạt động năng suất chất lượng được đẩy mạnh, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, tích cực chuẩn bị cho tiến trình hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Trong mười năm qua mặc dầu còn muôn vàn khó khăn, song phong trào năng suất chất lượng tại Thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần làm thay đổi phương thức quản lý chất lượng của các doanh nghiệp trên địa bàn, theo phương châm chất lượng hàng hoá, dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 1980, các hoạt động đảm bảo chất lượng qua chương trình cấp dấu chất lượng đã được một số doanh nghiệp ở thành phố quan tâm như Nhà máy Điện cơ Đà Nẵng, Nhà máy cơ khí Đà Nẵng, Nhà máy Cao su Đà Nẵng, Xí nghiệp Chế biến Thuỷ sản Nam Ô, Nhà máy Dệt Hoà Thọ, Bia Sông Hàn... v.v. Những sản phẩm truyền thống của các đơn vị này như quạt điện, balat đèn huỳnh quang, săm lốp cao su, kem giặt Hải Vân... đã để lại những dấu ấn không nhỏ về chất lượng trong lòng người tiêu dùng Đà Nẵng, miền Trung và cả nước.

Bước sang thời kỳ đổi mới (1986-1996), đây là giai đoạn khó khăn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng. Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, phương thức quản lý chất lượng của nhiều doanh nghiệp không còn phù hợp, thiết bị công nghệ lạc hậu, theo đó mức chất lượng sản phẩm hàng hoá còn thấp, sức cạnh tranh kém, tính thoả mãn khách hàng chưa cao... trên thị trường tồn tại nhiều loại hàng giả, hàng kém chất lượng như: xi măng, nước khoáng, nước ngọt, nước mắm, nước giải khát, mì chính, vàng trang sức, bánh kẹo các loại... Nhiều doanh nghiệp đã không kịp chuyển đổi phương thức quản lý trong tình hình mới, nên đã gục ngã trước sức cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường.

Bước vào giai đoạn 1996 – 2005, công tác quản lý chất lượng bắt đầu có những chuyển biến nhất định, tuy nhiên ở giai đoạn đầu chủ yếu diễn ra trong khối quản lý nhà nước, các cơ quan quản lý chất lượng tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với chất lượng sản phẩm hàng hoá đồng thời nghiên cứu thay đổi phương thức quản lý mới cho phù hợp với thông lệ quốc tế và thuận lợi khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO… Cơ chế quản lý mới bắt đầu được hình thành sau khi Pháp lệnh chất lượng hàng hoá được sửa đổi năm 1999 chính thức có hiệu lực... và phải đến giai đoạn sau ( năm 2000 ) mới trở thành phong trào chất lượng rộng khắp trong các Doanh nghiệp.

Đây là giai đoạn mà các doanh nghiệp đang đua nhau cạnh tranh về chất lượng, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại, đổi mới phương thức quản lý chất lượng để không ngừng nâng cao chất lượng tăng khả năng cạnh tranh thị trường trong nước, khu vực và thế giới, như Cao su Đà Nẵng, xi măng Hải Vân, Cơ khí ô tô Đà Nẵng, dệt Hoà Thọ, Công ty Hữu Nghị, Dệt 29/3 …một số không ít các doanh nghiệp đã phấn đấu vượt và đạt mức chất lượng đã được công bố, đáp ứng và từng bước thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của khách hàng, chữ tín, lòng tin và thương hiệu bắt đầu gắn chặt với nội hàm chất lượng.

Trong giai đoạn này chất lượng một số sản phẩm hàng hoá của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã được nâng lên rõ rệt: ví dụ Xi măng Hải Vân, sản phẩm cao su Đà Nẵng, giày Hữu Nghị, dệt Hoà Thọ, dệt 29/3, sản phẩm thuỷ sản và một số sản phẩm mộc dân dụng đã có mặt ở các thị trường Âu, Mỹ và các nước trong khu vực. Hàng năm đã mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho ngân sách thành phố, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất kinh doanh và đời sống của người tiêu dùng thành phố.

Trong 10 năm qua phong trào năng suất chất lượng và các hoạt động về chất lượng trên địa bàn thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự thành công đó là do tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan tạo nên trong quá trình hoạt động chất lượng. Điều quan trọng hơn nữa là tạo ra cho các doanh nghiệp nhận thức về chất lượng và phương thức quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế thế giới.

1. Xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật thúc đẩy các hoạt động nâng cao năng suất chất lượng.

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ ngành liên quan ban hành.

Thành uỷ , UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quy định, tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động năng suất chất lượng trên địa bàn thành phố có những bước tiến rất quan trọng cả về lượng lẫn về chất, cụ thể như sau:

- Chương trình hành động của Thành uỷ Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá;

- Quyết định 119/2000/QĐ-UB ngày 05 tháng 11 năm 2000 về việc lập, sử dụng và quản lý Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng.

- Quyết định 104/2004/2003/QĐ-UB ngày 25 tháng 6 năm 2003 về việc ban hành Đề án hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (ISO 9000, HACCP, GMP...) và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ 2003 đến 2006.

- Quyết định số 52/2004/QĐ-UB ngày 12 tháng 3 năm 2004 về việc phê duyệt một số nội dung, biện pháp thực hiện năm doanh nghiệp 2004.

- Quyết định số 111/2004/QĐ-UB ngày 24 tháng 6 năm 2004 về việc ban hành Quy chế hình thành, sử dụng và quản lý Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng. (Thay thế Quyết định 119/2000/QĐ-UB)

- Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010 ban hành kèm theo Quyết định 149/2004/QĐ-UB ngày 06 tháng 9 năm 2004 của UBND thành phố Đà Nẵng;

- Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2010 và 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 29/2005/QĐ-UB ngày 03 tháng 3 năm 2005 của UBND thành phố Đà Nẵng;

Hệ thống các cơ chế chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng trên địa bàn thành phố phát triển mạnh mẽ và có định hướng bền vững.

2. Qúa trình nhận thức và chuyển đổi phương thức quản lý chất lượng của doanh nghiệp trước xu thế hội nhập và định hướng của Nhà nước

1/ Hoạt động đăng ký chất lượng hàng hoá (Giai đoạn từ 1996 –2000):

Hoạt động đăng ký chất lượng hàng hóa: Thực chất đây là sự cam kết giữa các doanh nghiệp với Nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá của mình không trái với các mức tối thiểu do Nhà nước quy định. Nhà nước đóng vai trò trung gian, cán cân công lý giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Trong giai đoạn 1997-2000 toàn thành phố đã cấp đăng ký chất lượng cho 1633 lượt sản phẩm hàng hoá các loại các loại, cụ thể như sau:

Nội dung

Số lượng sản phẩm đăng ký

1997

1998

1999

2000

Số sản phẩm đã cấp đăng ký

531

322

370

410

Hoạt động đăng ký chất lượng đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng, góp phần từng bước ổn định và nâng cao chất lượng SPHH trong giai đoạn 1996-2000.

2/ Hoạt động công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá và công bố hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn 2001-2005:

Bước sang năm 2001, công tác quản lý chất lượng đã có những thay đổi hết sức cơ bản. Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật trong lỉnh vực quản lý chất lượng, nhằm nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp, tạo ra những bước đi ban đầu trong tiến trình hội nhập khu vực, quốc tế, cụ thể như sau:

- Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 24-12-1999. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố lệnh ngày 04-01-2000.

- Quyết định số 2424/2000/QĐ-BKHCNMT ngày 12 tháng 12 năm 2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), về việc ban hành “Quy định tạm thời về công bố hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn”.

- Quyết định số 2425/2000/QĐ-BKHCNMT ngày 12 tháng 12 năm 2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), về việc ban hành “Quy định tạm thời về công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá”.

Hoạt động công bố Tiêu chuẩn chất lượng và công bố Hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn được thực hiện bắt đầu từ 2001 đến nay, theo hướng nâng cao vai trò, trách nhiệm của Doanh nghiệp trước xã hội, trước người tiêu dùng, phát huy tính năng động của từng doanh nghiệp trong việc áp dụng tiêu chuẩn phù hợp với trình độ kỹ thuật, công nghệ, thiết bị, tiêu chuẩn của từng doanh nghiệp trong sự đa dạng phong phú của cơ chế thị trường. Từ 2001 đến nay toàn thành phố đã cấp 1406 giấy tiếp nhận công bố đối với sản phẩm hàng hoá các loại, trong đó Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp: 664 giấy tiếp nhận, Sở Y tế: 306 giấy tiếp nhận, Thuỷ sản Nông Lâm: 436 giấy tiếp nhận.

Qua hoạt động đăng ký chất lượng và công bố tiêu chuẩn chất lượng, có nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng ổn định và nâng cao như : Xi măng, Sắt thép, cao su, gạch men, nước mắm, điện- điện tử, xăng dầu, xe máy, xe ô tô đóng mới, dược phẩm và thuỷ hải sản xuất khẩu...

3/ Hoạt động thử nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hoá:

Về hoạt động thử nghiệm chất lượng: Công tác phân tích, thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá là việc cung cấp số liệu pháp lý kỹ thuật phục vụ công tác điều tra, thanh tra, kiểm tra cũng như giám định, trọng tài giải quyết tranh chấp, phục vụ nghiên cứu khoa học…cũng được quan tâm và phát triển; nhiều đơn vị đã được đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho công tác phân tích, thử nghiệm. Trong 10 năm hoạt động thử nghiệm chất lượng cho thấy: hoạt động thử nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng không những cho doanh nghiệp mà còn phục vụ đắc lực cho công tác thanh tra kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng hàng hoá. Kết quả phân tích thử nghiệm đã giúp các đơn vị sản xuất điều chỉnh phối liệu, nhanh chóng đổi mới công nghệ và tìm các giải pháp có liên quan nhằm sản xuất ra sản phẩm có chất lượng ngày càng cao và ổn định . Các số liệu phân tích thử nghiệm cũng là cơ sở pháp lý giúp các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời phát hiện và ngăn chặn tệ nạn sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng kém chất lượng trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, bình quân hàng năm trên địa bàn thành phố đã tiến hành thử nghiệm khoảng hơn 2000 mẫu sản phẩm hàng hoá các loại, trong đó thử nghiệm các chỉ tiêu hoá sinh chiếm hơn 80% và khoảng gần 20% thử nghiệm các chỉ tiêu cơ lý.

Đặc biệt, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, việc thử nghiệm chất lượng hàng hoá, chứng nhận an toàn đối với sức khoẻ và môi trường là không thể thiếu, và khi đó thử nghiệm là vấn đề được quan tâm hàng đầu, thực sự là một công cụ cho hội nhập kinh tế và phát triển sản xuất.

4/ Hoạt động công nhận phòng thí nghiệm:

Trên địa bàn thành phố hiện nay số lượng các phòng thí nghiệm ngày càng nhiều, đặc biệt số lượng phòng thí nghiệm của các doanh nghiệp được tăng lên một cách nhanh chóng. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, đến nay trên địa bàn thành phố có khoảng trên 30 phòng thí nghiệm các loại, trong đó số lượng phòng do các cơ quan Nhà nước quản lý: 07, còn lại là của các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp của Trung ương. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng các phòng thí nghiệm, việc công nhận phòng thí nghiệm quốc gia và chuyên ngành là vấn đề hết sức cần thiết. Đến nay trên toàn thành phố đã có 6 phòng thí nghiệm đã được chứng nhận là Phòng thí nghiệm quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 trong đó 04 phòng thuộc Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng KV2, 01 phòng thí nghiệm của Công ty Xăng dầu KV5, 01 Phòng thí nghiệm của Công ty Xi măng Hải Vân và nhiều phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ngành xây dựng. Đây là hoạt động sự nghiệp kỹ thuật quan trọng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng các phòng thử nghiệm trong toàn thành phố, đáp ứng yêu cầu của xu thế phát triển và hội nhập.

5/ Về công tác tiêu chuẩn hoá :

Để chuẩn bị cho gia nhập WTO, việc hài hòa Tiêu chuẩn Việt Nam với Tiêu chuẩn quốc tế nhằm thúc đẩy và tạo thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa nước ta và các nước, đã buộc các doanh nghiệp phải tìm cách đi trước bằng việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc các Tiêu chuẩn Việt Nam đã được hài hòa với Tiêu chuẩn quốc tế. Đây là biện pháp hết sức quan trọng, các doanh nghiệp phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học, các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng và phù hợp tiêu chuẩn quốc tế…

Khuyến khích ban hành áp dụng hệ thống tiêu chuẩn cơ sở ( Tiêu chuẩn do Doanh nghiệp ban hành) cũng là nhân tố tích cực trong phát triển chất lượng; Tiêu chuẩn Việt Nam chỉ là định khung, còn Tiêu chuẩn cơ sở thể hiện sự năng động, sáng tạo, trình độ kỹ thuật, bí quyết công nghệ... của mỗi Doanh nghiệp dẫn đến làm cho các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao, phong phú, đa dạng... đáp ứng nhu cầu mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội... Trong thời gian qua trong toàn thành phố số doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn cơ sở chiếm tỷ trọng khá lớn (80%), góp phần đa dạng hoá các loại sản phẩm hàng hoá trong thành phố, mở ra nhiều cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng.

Việc mở rộng áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn nước ngoài ( theo quy định tại pháp lệnh chất lượng hàng hóa và Nghị định 179-NĐ/CP) đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các Doanh nghiệp tự do lựa chọn tiêu chuẩn áp dụng phù hợp với năng lực sản xuất kinh doanh của mình (Tuy nhiên không được trái với các quy định bắt buộc áp dụng).

Hoạt động công nhận của các tổ chức chứng nhận, giám định và hệ thống các phòng thí nghiệm Quốc gia, Bộ, ngành: đã góp phần chuẩn mực hóa theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau giữa các quốc gia, trong việc chứng nhận hệ thống chất lượng, chứng nhận sản phẩm hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, công nhận hệ thống Phòng thử nghiệm - Đây là hành lang pháp lý rất quan trọng tạo điều kiện thuận lợi hết sức cho sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của ta thông thương với quốc tế, và chính đây cũng là một trong những rào cản kỹ thuật quan trọng đã và đang tháo gỡ cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm rộng đường trong thời gian tới.

6/ Áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến:

Thành phố Đà Nẵng là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nước và miền Trung. Do nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng theo hệ thống nên từ năm 1999, UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành Thương mại, Khoa học, Công nghệ và Môi trường tiến hành mở các lớp tập huấn nghiệp vụ, truyền thông quảng bá lợi ích của việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000, TQM, HACCP, GMP và hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 cho các doanh nghiệp tại Đà Nẵng.

Uỷ ban Nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 119/2000/QĐ-UB ngày 05/11/2000 về việc “Lập, sử dụng và quản lý Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng”. Theo đó, Sở Tài chính - Vật giá đã có Công văn hướng dẫn số 2852/HD/TC-VG ngày 17/10/2001 về sử dụng Quỹ hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước do thành phố quản lý, trong đó có hỗ trợ ở mức tối đa 25 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp Nhà nước được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Việc áp dụng hệ thống chất lượng ISO 9000 đã tạo cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh, đảm bảo uy tín với khách hàng, giảm chi phí khi các quá trình sản xuất được sắp xếp một cách hợp lý. Nhờ kiểm soát các quá trình sản xuất mà có thể giảm thiểu đến mức tối đa các sản phẩm hàng hoá kém chất lượng. Như vậy có thể nói đầu tư cho chất lượng là đầu tư cho quá trình tạo ra giá trị gia tăng và chính đó cũng là mục tiêu của quản lý chất lượng. Một số doanh nghiệp như Công ty Xi măng Hải Vân, Công ty Cao su Đà Nẵng, Công ty Hữu Nghị ... là những doanh nghiệp đi đầu trong việc xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000. Do đó chất lượng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp đã ổn định và từng bước được nâng cao, đáp ứng được mong muốn của khách hàng, thị phần của doanh nghiệp không ngừng được mở rộng, kể cả trong nước và thế giới. Tuy nhiên, sau hơn hai năm triển khai, số lượng các doanh nghiệp của thành phố được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng vẫn chưa gia tăng đáng kể. Tính đến tháng 6/2003 trên địa bàn thành phố có 28 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO 9000.

Trước tình hình trên ngày 25 tháng 6 năm 2003, UBND thành phố Đà Nẵng

đã ra Quyết định số104/QĐ-UB về việc ban hành Đề án hỗ trợ các doanh nghiệp

thuộc thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ

thống quản lý môi trường. Đến thời điểm hiện nay trên địa bàn, theo số liệu thống

kê chưa đầy đủ có khoảng gần 100 doanh nghiệp đã được cấp chứng nhận ISO

9000, HACCP: 03, GMP: 01, ISO 14000: 02 và nhiều doanh nghiệp đang triển

khai áp dụng ISO 9000. Việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến

đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của các

doanh nghiệp trên địa bàn.

Quá trình xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế đã góp phần :

Buộc các Doanh nghiệp phải thay đổi phương thức quản lý tùy tiện, theo ý chí chủ quan trước đây bằng cả một hệ thống quản lý có tính khoa học, hệ thống, toàn diện và tuân thủ 08 nguyên tắc trong quản lý chất lượng:

- Định hướng bởi khách hàng

- Sự lãnh đạo

- Sự tham gia của mọi thành viên trong doanh nghiệp

- Phương pháp quá trình

- Tính hệ thống

- Cải tiến liên tục

- Quyết định dựa trên sự kiện

- Phát triển quan hệ hợp tác

7/ Tổ chức tham gia Giải thưởng chất lượng Việt Nam

Giải thưởng chất lượng Việt Nam, các loại giải thưởng chất lượng và các hình thức tôn vinh khác đối với các Doanh nghiệp là một trong những biện pháp hữu hiệu để động viên phát triển phong trào năng suất và chất lượng rộng khắp trong toàn quốc nói chung và Đà Nẵng nói riêng.

Từ năm 1996, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức bình chọn, xét tặng Giải thưởng chất lượng Việt Nam hàng năm cho các doanh nghiệp tiêu biểu. Giải thưởng chất lượng Việt Nam với hệ thống các tiêu chí và cách thức đánh giá theo chuẩn mực quốc tế là một Giải thưởng có uy tín với các doanh nghiệp trong nước và được đánh giá cao ở bình diện quốc tế và khu vực. Ðến nay thành phố Đà Nẵng đã có 07 nghiệp đoạt Giải thưởng chất lượng Việt Nam, trong đó: Công ty Thực phẩm Minh Anh và Công ty Cổ phần Phương Đông 02 lần tham gia và đều đạt giải. Cùng với những hình thức tôn vinh khác cho doanh nghiệp, Giải thưởng chất lượng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào hệ thống các giải pháp tổng thể để xây dựng phát triển phong trào năng suất chất lượng của nước ta nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng trong Thập niên vừa qua.

8/ Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ : Chất lượng các hoạt động dịch vụ ở các ngành như: Bưu chính - viễn thông, điện năng, tài chính- ngân hàng, du lịch-dịch vụ cũng được nâng lên đáng kể, vừa góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tăng thu cho ngân sách nhà nước, vừa thoả mãn ngày càng cao đối với nhu cầu đòi hỏi của đời sống xã hội.

9/ Hệ thống chuẩn đo lường ngày càng được bổ sung, nâng cấp chính xác... cùng với hệ thống mạng lưới kiểm định - hiệu chỉnh trong toàn quốc là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, công nghiệp và cả mọi hoạt động liên quan đến chất lượng, đồng thời nó là thuớc đo kiểm chứng trình độ đạt được của chất lượng.

10/ Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá, đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc ổn định và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, hạn chế tối đa hàng giả, hàng kém chất lượng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các nhà sản xuất chân chính và của người tiêu dùng.

11/ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị khoa học công nghệ, đo lường, thí nghiệm… từ nhiều nguồn khác nhau cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành liên quan và Lãnh đạo thành phố quan tâm-Đó là nguồn lực cơ bản quyết định đến kết quả của thành tựu chất lượng trong thời gian qua.

12/ Về hoạt động thông tin tuyên truyền:

Công tác chất lượng được thông tin, tuyên truyền và chuyển tải dưới nhiều hình thức khác nhau như : báo chí, phát thanh, truyền hình, bài viết, tham luận, giới thiệu, quảng bá, hội nghị, hội thảo, diễn đàn, hội chợ, triển lãm ...Công tác thông tin tuyên truyền đã tạo ra nhận thức cao về vai trò của chất lượng sản phẩm, hàng hoá cho mọi thành phần xã hội, đặc biệt là các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Đây là một trong những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy phong trào thập niên chất lượng trong thời gian qua.

Trong mười năm qua cùng với sự phát triển của cả nước, phong trào năng suất chất lượng thành phố đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều Doanh nghiệp đã nhận thức rõ : Chất lượng là sự sống còn của chính mình- Là yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Tuy nhiên trong mười năm tổ chức hoạt động vẫn còn nhiều tồn tại cần phải phải khắc phục để có định hướng đúng và bền vững cho việc xây dựng và phát triển phong trào năng suất chất lượng trong toàn thành phố, làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hoá thực sự trở thành yếu tố quyết định, là chìa khoá để phát triển và hội nhập thành công.

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập