Các giải pháp tăng cường hoạt động đăng ký bảo hộ độc quyền SHCN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 10/11/2004 Lượt xem: 5

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Những cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam và Đà Nẵng trong lĩnh vực hoạt động SHTT/SHCN trong bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước:
A
. Cơ hội
Ngày nay sở hữu công nghiệp/sở hữu trí tuệ ngày (SHCN/SHTT) ngày càng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà còn được các quốc gia quan tâm đến trong quá trình hội nhập. SHTTngày nay đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với mọi quốc gia khi tham gia hội nhập kinh tế và thương mại. Việt Nam đã tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới với 81Hiệp định Thương mại song phương được ký kết với 81 quốc gia, trong đó 80 Hiệp định ký kết từng ngành hàng; chỉ có Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳbao gồm 04 lĩnh vực: thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệvà dịch vụ. Việc ký kết thành công Hiệp định Thương mại Việt -Mỹ là thắng lợi và cơ hội của Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế thế giới, cụ thể:

a. Môi trường pháp lý về SHTT/SHCN đã hình thành
Việt Nam đã xây dựng một chương trình về SHTT với mục tiêu tổng quát là làm cho hệ thống SHTT của Việt Nam phù hợp hoàn toàn với Hiệp định TRIPS. Quá trình đàm phán về nội dung SHTT nhằm đưa Việt Nam gia nhập WTO đã diễn ra trong tổng thể các cuộc đàm phán chung và đã trải qua giai đoạn quan trọng là “minh bạch hóa chính sách”. Trong giai đoạn này, Việt Nam đã công bố hiện trạng chính sách và pháp luật; thông báo kịp thời mọi sự thay đổi, tiến bộ về hoạt động SHTT cho các nước thành viên WTO. Hiện nay, Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn “ đàm phán thực chất”, bao gồm các cuộc đàm phán song phương và đa phương. Việt Nam đã và đang ban hành đồng bộ các văn bản pháp luật về lĩnh vực SHTT; hệ thống pháp luật về SHTT/SHCN đã gần như đạt mục tiêu về tính đầy đủ, về cơ bản đã tương hợp với tập quán quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để bảo hộ gần hết các đối tượng SHTT.

b. Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SHTT/SHCN ngày càng phát triển
- Việt Nam đã triển khai thực hiện hợp tác trong khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế trong khuôn khổ ASEAN và khuôn khổ APEC;
- Đàm phán về SHTT để chuẩn bị gia nhập WTO
- Đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
- Hợp tác và đối thoại về SHTT trong khuôn khổ ASEAN và EU
- Hợp tác song phương trong lĩnh vực SHCN với tổ chức SHTT Thế giới

c. Hợp tác và đối thoại về SHTT trong khuôn khổ ASEAN và EU
SHTT là một trong các nội dung hợp tác ASEAN-EU. Từ khi trở thành viên của ASEAN (1995), Việt Nam đã tham gia Chương trình EU trợ giúp ASEAN về SHTT (1993-1997). Đến tháng 10/1999, Việt Nam đã ký với EU Thảo thuận tài trợ về Dự án Hợp tác SHTT EU-ASEAN. Theo đó Việt Nam sẽ tham gia Chương trình Khu vực của Dự án hợp tác 2000-2005.

d. Mặt khác, ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh làm thay đổi chiến lược đầu tư, các công ty không nhất thiết phải sản xuất ở một vị trí nhất định mà có thể trực tiếp đầu tư sản xuất ở bất kỳ lãnh thổ nào thích hợp và sản xuất các sản phẩm phù hợp với điều kiện của từng vùng lãnh thổ. Những vùng lãnh thổ có thể làm tăng giá trị sản phẩm được xem như một lợi thế đầu tư.

e. Hội nhập kinh tế tạo cho các nước đang phát triển cơ hội đào tạo, nâng cao trình độ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của nguồn nhân lực, giúp cho các nước này dễ dàng tham gia vào sự phân công lao động quốc tế; tăng nhanh xuất khẩu và mở rộng kênh phân phối sản phẩm ra nhiều vùng lãnh thổ, nhiều quốc gia; tạo điều kiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ thích hợp làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.

f. Ngày nay các tiến bộ kỹ thuật công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc môi trường kinh tế, phương thức kinh doanh và thậm chí thay đổi cả cách sống và làm việc của con người. Một hình thức thương mại mới, thương mại điện tử xuất hiện bên cạnh phương thức thương mại truyền thống và các doanh nghiệp Việt Nam cũng được tiếp cận nhanh chóng với môi trường kinh doanh mới này.

g. Bảo đảm thực thi hữu hiệu quyền sở hữu công nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch phân phối sản phẩm, chiếm lĩnh và kiểm soát thị trường. Đặc biệt trong tình hình hoạt động nhập khẩu, buôn lậu hàng xâm phạm gia tăng hiện nay sẽ gây sức ép lớn đối với đầu tư trong nước, hoạt đông đầu tư sẽ không đứng vững nếu không có việc ngăn chặn kiểm soát có hiệu quả tại biên giới.

B. Những thách thức
Mặc dù nhà nước đã ban hành pháp luật bảo hộ quyền SHCN trên 20 năm và từ đó khái niệm SHCN đã được tồn tại và đi vào cuộc sống nhưng đến thời điểm này giới doanh nghiệp nói riêng và người tiêu dùng và xã hội nói chung vẫn còn thấy chưa thâti sự quên thuộc và quan tâm đến vấn đề này. Điều này dẫn đến những khó khăn và thách thức cho các doanh nghiệp, cụ thể;
- Thách thức thứ nhất là các sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam chất lượng chưa cao, chưa ổn định, giá cả cao, hệ thống phân phối hạn chế, khả năng cạnh tranh yếu kể cả xuất khẩu các sản phẩm thô.
- Thứ hai, hoạt động SHCN/SHTT đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn mới mẻ, khó tiếp nhận và chuyển tải vào hoạt động kinh doanh của mình.
- Thứ ba, phần lớn các doanh nghiệp chưa coi SHCN/SHTT là tài sản của mình vì vậy các doanh nghiệp chưa chuẩn bị cac điều kiện cần thiết, nhất là về pháp lý để bảo vệ, củng cố và phát triển loại tài sản này.
- Thứ tư, do thói quen nhiều doanh nghiệp ngần ngại khi phải bỏ một ít chi phí cho việc đăng ký, dẫn đến mất thời cơ đăng ký.
- Một thách thức nữa là việc thực thi SHCN/SHTT tại Việt nam chưa làm tốt nên các doanh nghiệp dễ bị nản chí vì đăng ký bảo hộ rồi nhưng vẫn không được pháp luật bảo hộ triệt để.

II.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ BẢO HỘ CÁC ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM:

1. Hoạt động bảo hộ độc quyền SHCN của Cục Sở hữu trí tuệ
Tính từ ngày thành lập cho đến hết 31 tháng 5 năm 2003, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận 98.296 đơn yêu cầu bảo hộ độc quyền SHCN, trong đó 10.940 đơn sáng chế (SC), 908 đơn giải pháp hữu ích (GPHI) 12.371 đơn kiểu dáng công nghiệp (KDCN), 67.917 đơn nhãn hiệu hàng hóa NHHH và đã cấp 57.143 văn bằng bảo hộ trong đó 46.250Giấy chứng nhận đăng ký NHHH, 7.076bằng KDCN, 3.482 bằng sáng chế, 335 bằng giải pháp hữu ích..
Tỷ lệ số đơn và số văn bằng đã cấpcho người nước ngoài chiếm khoảng 50%. Cục Sở hữu trí tuệ cũng đã nhận đơn và cấp trên 50.000 nhãn hiệu quốc tế

2. Hoạt động bảo hộ độc quyền của doanh nghiệp Đà Nẵng
Qua kết quả khảo sát của Sở khoa học và Công nghệ năm 2003:
- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều có quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình. Nhưng so với số doanh nghiệp đã đăng ký qua sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố chỉ là một số nhỏ: 280/2.615 doanh nghiệp, chiếm 10,7%; doanh nghiệp tư nhân 150/969 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 15,4%...
- Các đối tượng đăng ký bảo hộ chủ yếu :
+ NHHH: 570/609 (tổng số đối tượng đăng ký bảo hộ), chiếm 93/6%.
+ Kiểu dáng công nghiệp : 35/609 (tổng số đối tượng đăng ký bảo hộ), chiếm5,7%;
+ Giải pháp hữu ích và sáng chế là con số không đáng kể; 04/609.
+ Tên gọi xuất xứ hàng hóa: không có
- Theo nhóm sản phẩm hàng hóa và dịch vụ:
+ dịch vụ khách sạn: 98/570 (17,1%);
+ sản phẩm thực phẩm, thủy sản: 77/570 (13,5%);
+ kinh doanh vàng bạc : 79/570 chiếm tỷ lệ 13,8%;
+ sản phẩm vật liệu xây dựng, thi công xây dựng công trình: 55/570 (9,6%);
+ sản phẩm dược:52/570 (9,1%) tuy nhiên tập trung chủ yếu tại một doanh nghiệp là chính;
+ sản phẩm dệt da, may mặc: 29/570 (5.08%);
+ sản phẩm nhựa, cao su: 25/570 (4,4%);
+ sản phẩm cơ khí, xe máy: 21/570 (3,4%);
+ sản phẩm dịch vụ về tin học: 1/570; vui chơi gải trí 03/570

* So sánh với một số địa phương và toàn quốc:
- Toàn quốc (tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2003)
Số đối tượng sở hữu công nghiệp trên địa bàn thành phố được cấp văn bằng là 644/57.143 chiếm1,12% tổng số đối tượng SHCN được cấp văn bằng của cả nước; trong đó:
+ NHHH có: 602/46.250; chiếm1,3% so với tổng số NHHH của cả nước; chiếm: 1,05% tổng số đối tượng SHCN được cấp văn bằng của cả nước.
+ KDCN có: 38/7.076; chiếm 0,53% so với tổng số KDCN của cả nước; chiếm 0,06% tổng số đối tượng SHCN được cấp văn bằng của cả nước.
+GPHI và SC có 04/335; chiếm 1,19% với tổng số SC và GPHI của cả nước; chiếm 0,006‰ tổng số đối tượng SHCN được cấp văn bằng của cả nước.
- Một số địa phương khác (số liệu NHHH tính đến tháng 30/6/2002)
+ Thành phố Hồ Chí Minh : 5.611
+
Thành phố Hà Nội:1.761
+
Thành phố Đà Nẵng:570
+
Thành phố Hải Phòng:235
+
Bình Dương:780
+
Bến Tre:372
+
Khánh Hòa:127
+
Bình Định:109
+
Thừa Thiên Huế:32
Như vậy, qua số liệu so sánh cho thấy các doanh nghiệp Đà Nẵng là một trong những địa phương đã có hoạt động đăng ký và bảo vệnhãn hiệu hàng hóa nói riêng và các đối tượng SHCN nói chung khá sôi động thể hiện ở con số đứng thứ tư trong toàn quốc; chỉ thấp hơn so với các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương là các địa phương có tốc độ phát triển kinh tế-kỹ thuật nhanh, có nhiều doanh nghiệp với cơ sở trang thiết bị và công nghệ sản xuất công nghiệp hiện đại, là các đại phương có tổng mức vốn đầu tư trong và ngoài nước cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn.

* Đánh giá chung tình hình đăng ký và sử dụng các đối tượng SHCN của các doanh nghiệp:
- Việc nhận thức SHHT/SHCN là tài sản vô hình của doanh nghiệp từ đó có ý thức tạo mọi điều kiện cần thiết, nhất là về mặt pháp lý để bảo vệ, củng cố và phát triển loại tài sản này đối với hầu hết các doanh nghiệp tại Đà Nẵng còn mới mẻ hoặc ngần ngạivì thấy đăng ký rồi nhưng liệu cơ quan có thẩm quyền có bảo vệ mình theo luật định về SHCN được không (trừ một số doanh nghiệp lớn như: Công ty cao Su, Công ty Dệt may đà Nẵng, Công ty Hữu Nghị, Công ty Cơ khí ôtô và thiết bị điện Đà Năng, Công ty Dược Trung ương 5…)
- Tình hình chuyển giao các đối tượng SHCN: 4/280; không đáng kể do nhu cầu chuyển giao không có; mặt khác do giá trị của NHHH, KDCN chưa đáp ứng yêu cầu thị trường, NHHH không nổi tiếng, không được người tiêu dùng biết đến nhiều. Nhu cầu phát triển sản xuất còn hạn chế. Mối quan hệ giữa tác giả và người có nhu cầu sử dụng các SC, GPHI chưa được thiết lập chặt chẽ.
- Vi phạm: chủ yếu do các địa phương khác vi phạm, nhưng bản thân các chủ văn bằng chưa phối hợp cơ quan chức năng giải quyết triệt để; mặt khác Nghị định “xử lý vi phạm hành chính về SHCN mới ban hành 06 tháng 3 năm 1999.

III. NHỮNG TỒN TẠI CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ QUYỀN

A. Tồn tại:

1. Nhận thức của doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội
- Hầu như các doanh nghiệp đều quan tâm đến việc xây dựng nhãn hiệu (biểu tượng, hình ảnh, uy tín) của doanh nghiệp.Tuy nhiên, phần lớn chỉ dừng ở mức độ đăng ký pháp lý còn xây dựng chiến lược sử dụng, khai thác, coi nhãn hiệu là một tài sản, một công cụ cạnh tranh thì rất ít. Việc nghiên cứu, thiết kế thay đổi kiểu dáng sản phẩm cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng chưa phải là trọng tâm và mối quan tâm của doanh nghiệp.
- Phần lớn các doanh nghiệp chưa coi SHCN/SHTT là tài sản của mình vì vậy các doanh nghiệp chưa chuẩn bị các điều kiện cần thiết, nhất là về pháp lý để bảo vệ, củng cố và phát triển loại tài sản này. Mặt khác do thói quen nhiều doanh nghiệp ngần ngại khi phải bỏ một ít chi phí cho việc đăng ký, dẫn đến mất thời cơ đăng ký.Thực tế cho thấy chỉ có doanh nghiệp nào có ý thức và hiểu biết về nhãn hiệu thường khá thành công trong hệ thống phân phối và xúc tiến thương mại các sản phẩm của mình.
- Phần lớn người tiêu dùng chưa nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp đối với chất lượng sản phẩm mà mình tiêu thụ. Việc phản hồi về chất lượng sản phẩm, dịch vụ , mẫu mã, uy tín sản phẩm của người tiêu dùng với nhà sản xuất và dịch vụ không đầy đủ và không kịp thời; phần nào hạn chế doanh nghiệp trong hoạt động thúc đẩy , cải tiến mẫu mã hoặc duy trì và bảo vệ uy tín NHHH của mình.

2. Việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT/SHCN
- Mặc dù, việc tuyên truyền phổ biến kiến thức về SHTT/SHCN đã được Cục Sở hữu trí tuệ đã triển khai thực hiện từ sớm và trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, nhưng việc tuyên truyền này cũng chỉ mới thực sự là cần thiết và có hiệu quảkhi Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với các Chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật với một số cơ quan và chính phủ nước ngoài.
- Đối tượng để tiếp cận với kiến thức SHTT/SHCN chưa nhiều và chưa đầy đủ ở các tầng lớp trong xã hội.

- Hệ thống văn bản pháp qui về SHTT/SHCN những năm gần đây mới thực sự được hoàn thiện và phù hợp xu thế phát triển kinh tế kỹ thuật, xã hội và thương mại của thế giới.

3. Thủ tục đăng ký bảo hộ độc quyền:
Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đơn giản nhưng chưa thật thuận lợi tối đa cho người nộp đơn. Ví dụ: nơi nộp đơn là Cục Sở hữu trí tuệ hoặc các Tổ chức Đại diện sở hữu công nghiệp; tuy nhiên hệ thống Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp không phải ở địa phương nào cũng có và không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện liên hệ theo dõi đơn đã nộp cho đến đến khi được cấp văn bằng.
- Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo Hiệp ước về Đăng ký Quốc tế nhãn hiệu hàng hóa chưa trở thành thói quen cho các doanh nghiệp; nhất là trong gia đoạn hiện nay việc tham gia hội nhập kinh tế thế giới thì việc quan tâm đến hoạt động SHTTtrở nên cần thiết.
-
Việc thực thi SHCN/SHTT tại Việt nam chưa làm tốt nên các doanh nghiệp dễ bị nản chí vì đăng ký bảo hộ rồi nhưng vẫn không được pháp luật bảo hộ triệt để.

4. Hoạt động quản lý nhà nước
Việc hỗ trợ trong hoạt động SHTT của cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp còn ít, cụ thể:
- Chủ yếu sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước về SHTTchỉ hướng dẫn những doanh nghiệp nào có nhu cầu làm thủ tục đăng ký bảo hộ các đối tượng SHCN; nhưng việc phối hợp để giúp các doanh nghiệp tháo gỡ vàtìm các biện pháp quản lý hoạt động SHCN trong các khâu kinh doanh xuất nhập khẩu, sản xuất sản phẩm mới chưa thường xuyên. Trong khi thẩm định các dự án đầu tư, dự án hợp tác liên doanh với nước ngoài, trong chuyển giao công nghệ mới thì việc xem xét, đánh giá các yếu tố liên quan đến SHCN đã đủ tính pháp lý hay chưa, chưa được quan tâm đúng mức.
- Việc rà soát các loại hàng hóa, sản phẩm là đặc sản được sản xuất tại địa phương để hướng dẫn các đơn vị, cá nhân liên quan làm thủ tục đăng ký tên gọi xuất xứ hàng hóa chưa được tiến hành.
- Thực tế hoạt động quản lý Sở hữu công nghiệp của các cơ quan quản lý chức năng ở địa phương mới dừng lại ở việc phổ biến văn bản pháp luật và tư vấn hướng dẫn thủ tục đăng ký xác lập quyền Sở hữu công nghiệp.Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng và có thẩm quyền thực thi như Quản lý thị trường, cơ quan đăng ký chất lượng sản phẩm và nhãn sản phẩm, Thương mại, Thanh tra KH&CN đã được tăng cường nhưng chưa thật hiệu quả.

5. Yếu tố khách quan:
- Nạn sản xuất hàng giả chất lượng, hàng nhái nhãn hiệu hàng hóa của các cơ sở khác đã được Nhà nước bảo hộ vẫn còn xảy ra, nhưng việc giải quyết tranh chấp chưa triệt để, chưa bảo vệ được quyền của các chủ sở hữu văn bằngcũng như quyền lợi người tiêu dùng. Làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của địa phương trong tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.
- Thông tin về SHCN còn thiếu.Việc khai thác và sử dụng thông tin SHCN gặp nhiềukhó khăn, cụ thể:
+ Cơ sở dữ liệu SHCN chủ yếu tập trung tại các webside của Cục Sở hữu công nghiệp, Cơ quan Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và một số Cơ quan chuyên ngành SHTT/SHCN quốc tế khác. Vì vậy, việc khai thác các thông tin về SHTT/SHCN không phải bất cứ cá nhân, doanh nghiệp nào cũng thực hiện được.
+ Việc cung cấp và khai thác thông tin sở hữu công nghiệp chưa đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu người dùng tin. Ví dụ, việc tra cứu tình trạng pháp lý của các đối tượng SHCN của cơ quan quản lý trước khi tư vấn hướng dẫn cho cá nhân, đơn vị làm thủ tục đăng ký xác lập quyền
+ Việc cung cấp và trao đổi thông tin tình trạng pháp lý SHCN của các cá nhân, doanh nghiệp và yêu cầu bảo hộ cho các cơ quan thực thi quyền còn hạn chế.
- Việc đăng ký bảo hộ các đối tượng SHCN còn hạn chế, thể hiện các đối tượng bảo hộ chủ yếu là nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng khác như giải pháp hữu ích, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và tên gọi xuất xứ hàng hoá là không đáng kể;

B. Nguyên nhân

1. Mặc dù sở Khoa học và Công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nước, của Bộ Khoa học và Công nghệ, Chỉ thị của UBND thành phố về lĩnh vực Sở hữu công nghiệp, nhưng thiếu sự chỉ đạo thống nhất của UBND thành phố về việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố. Chưa có cuộc họp liên ngành nào để bàn và thống nhất thực hiện phối hợp hoạt động trong lĩnh vựcSở hữu công nghiệp, dẫn đếnmột số tồn tại nêu trên vẫn xảy ra.

2. Trong hệ thống văn bản về SHCN của Nhà nước đã có Nghị định và thông tư hướng dẫn qui định về xử lý vi phạm hành chính về SHCN; Nhưng việc thực thi chưa là tốt, nên việc tham gian ngăn chặn hay giải quyết các trường hợp vi phạm về quyền SHCN chưa kịp thời, không có hiệu quả. Mặt khác, một số chế tài trong các văn bản này chưa thật phù hợp với điều kiên thực tế, nên các cơ quan thẩm quyền đôi khi còn lũng túng và chưa thống nhất trong khi sử lý.

3. Nhận thức về quyền Sở hữu công nghiệp của các đơn vị, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn còn hạn chế. Nên việc tham gia cùng các cơ quan chức năng trong việc thực hiệnthủ tục xác lập quyền Sở hữu công nghiệp, cũng việc xem xét tính pháp lý của các yếu tố có liên quan đến Sở hữu công nghiệp, trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh sản phẩm hàng hóa, trong các dựán đầu tư không được chú trọng, còn bỏ qua. Nhất là trong việc thẩm định các dự án đầu tư hay liên doanh với nước ngoài, cũng như khi đàm phán ký kết các hợp đồng gia công hàng xuất khẩu, tạo kẽ hở để cho việc xâm phạmlẫn nhau về quyền Sở hữu công nghiệp của cả hai phíaViệt Nam và nuớc ngoài có thể xẩy ra. Chưa tạo được môi trườngkinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.

4. Mặt khác xuất phát từ trình độ, năng lực đổi mới công nghệ của địa phương còn hạn chế, sản xuất không ổn định, hoạt động nghiên cứu đổi mới công nghệ, thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, cải tiến mẫu mã sản phẩm cho phù hợpvới thị trường tiêu thụ còn hạn chế, số đơn vị, cá nhân quan tâm đến hoạt động SHCN không nhiều nên hoạt động đăng ký bảo hộ Nhà nước quyền Sở hữu công nghiệp vẫn còn hạn chế, không như các thành phố công nghiệp khác.

IV.CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ SHTT/SHCN

1. Củng cố và tăng cường hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước, cụ thể:
a. Xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Nhằm tổ chức, chỉ đạo thực hiệncác văn bản của Nhà nước về SHCN và các vấn đề liên quan khác đến lĩnh vực SHCN được áp dụng vào thực tiễn nhanh nhất. Đáp ứng và theo kịp được các yêu của điều kiện phát triển kinh tế-kỹ thuật và xã hội theo cơ chế thị trường hiện nay. Góp phần tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài muốn tham giathị trường Đà Nẵng.

b.Tăng cường & đẩy mạnh hơn nữa tổ chức, năng lực và điều kiện vật chất cho hoạt động SHCN nhằm triển khaicó hiệu quả các văn bản pháp luật của Nhà nước đã ban hành.

c. Nâng cao hơn nữa nhận thức của các doanh nghiệp và các cá nhân trên địa bàn, trong lĩnh vực hoạt động SHCN; góp phầnđẩy mạnh hoạt động sản xuất và kinh doanh và đầu tư mới của mình.

d.Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chức năng như Quản lý thị trường, Hải quan, Thương mại, Kế hoạch đầu tư, Tài chính, cơ quan đăng ký chất lượng sản phẩm và nhãn sản phẩm, trong việctriển khai thực hiện các văn bản qui định của Nhà nước và Chỉ thị của UBND thành phốvề thống nhất quản lý hoạt động Sở hữu công nghiệp. Đồng thời tăng cường hoạt động quản lý, phát hiện và ngăn chặn kịp thời nạn sản xuất hàng giả hoặc nhái nhãn sản phẩm cùng loại trên địa bàn thành phố.

e. Thường xuyên phối hợp các cơ quan quản quản lý đăng ký chất lượng và nhãn sản phẩm hàng hóa trong việc hướng dẫn các chủ thểtra cứu nhãn hiệu trước khi đăng ký để tránh trường hợp khiếu nại sau này.

f. Rà soát các sản phẩm hàng hóa đặc sản tại địa phương để có thể hướng dẫn các chủ thể xúc tiến làm thủ tục đăng ký tên gọi xuất xứ hàng hóa cho các loại hàng hóa này.

g. Triển khai thực hiện Nghị định số 12/1999/NĐ-CP, ngày 06/03/1999 “về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp”, và Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định này của Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường (Bộ Khoa học và Công nghệ ).

h. Tăng cường nguồn tài chính cho hoạt động này nhiều hơn nữa.

2. Đổi mới nhận thức và phương thức hoạt động SHTT/SHCN trong các doanh nghiệp:
a. Đối với các doanh nghiệp, cho dù chỉ hoạt động tại Việt Nam luôn phải quan tâm đến SHTT, đặc biệt là S,HCN bởi các lý do sau:
- Thị trường toàn cầu đang dần trở nên năng động. Mọi doanh nghiệp đều phải tự tìm cho mình một ưu thế cạnh tranh-có nghĩa là một sự nổi bật hoặc riêng biệt trên thương trường và chỉ có SHTT mới tạo ra động lực cần thiết cho các doanh nghiệp thành đạt. Điều này làm cho việc bảo hộ quyền SHCN của các doanh nghiệp trở nên thiết yếu.
- Việc xây dựng chiến lược hoạt động SHTT sẽ mang lại cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp những lợi thế to lớn và lâu dài trên thị trường. Doanh nghiệp nào nhạy bén thường đặt giá trị quyền SHCN của họ bên cạnh các tài sản khác và coi đó là thiết yếu.. Vì vậy doanh nghiệp đừng vì hiểu biết chưa sâu mà có những quyết định sai làm mất cơ hội hoặc bị đánh cắp loại tài sản này kể cả thị trường trong nước và thế giới.

b. Đối với Việt Nam và Đà Nẵng hiện nay, các yêu cầu đặt ra khi gia nhập kinh tế quốc tế là:
- Nắm vững các kiến thức về quyền SHTT/SHCN đối với các doanh nghiệp Nghĩa vụ tôn trọng quyền SHTT/SHCN là bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp trong điều kiện xã hội có sự điều chỉnh bằng pháp luật SHTT/SHCN. Bởi vậy mọi doanh nghiệp ở bất kỳ thị trường nào cũng phải bảo đảm không vi phạm quyền SHTT/SHCN. Muốn vậy, các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý liên quan đến SHTT/SHCN cần phải nắm vững các kiến thức về quyền SHTT/SHCN đối với các doanh nghiệp.

c. Doanh nghiệp phải xác định được NHHH, SC, GPHI, KDCN và các đối tượng SHTT/SHCN khác theo qui định của pháp luật SHTT chính là tiền bạc và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải nhanh chóng có chương trình xây dựng quyền SHTT trước hết cho sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, sau đó sẽ tiến tới đăng ký bảo hộ trên thị trường quốc tế và đặc biệt các thị trường truyền thống của mình nhằm làm cho thương hiệu hàng hoá của Việt Nam trên thị trường quốc tế ngày càng có uy tín..

d. Quảng bá cho NHHH và duy trì ổn định chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp là việc làm cần thiết
Kinh nghiệm một số doanh nghiệp Việt Nam thành công trong hoạt động SHTT như : Trung Nguyên, Thái Tuấn, VINAMILK, VISSAN…cho thấy, cần chú trọng làm cho chất lượng vượt trội và ổn định, phong cách phục vụ độc đáo; sử dụng nhiều chương trình quảng cáo và hệ thống đại lý rộng rãi khắp toàn quốc; chú trọng nghiên cứu thị trường, tìm được nhóm khách hàng thích hợp; đầu tư vào bao bì, mẫu mã phù hợp với đối tượng khách hàng,...

e. Quan tâm đến việc đầu tư nghiên cứu thị trường
Các doanh nghiệp cần đầu tư nghiên cứu thị trường, xác định ưu thế sản phẩm của mình với sản phẩm cần cạnh tranh, phân tích nhóm người tiêu dùng dự định nhằm vào thị hiếu, tập quán, xu hướng tiêu dùng, tham lkhảo ý kiến khách hàng. Chú trọng tổ chức quảng cáo bằng nhiều hình thức hiệu quả. Chú trọng sử dụng Internet như một phương tiện quảng cáo có chi phí thấp nhất, tiện dụng nhất cho doanh nghiệp. Quan tâm xây dựng đội ngũ làm công tác tiếp thị và tuyên truyền quảng cáo; chú trọng đào tạo cho cán bộ chủ chốt các kiến thức cơ bản như lễ tân, phát ngôn với báo chí, phụ trách khách hàng, công chúng.

g. Tham gia các Chương trình xúc tiến thương mại và Chương trình thương hiệu quốc gia. Đó thực chất là Chương trình hướng dẫn các các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện công tác phát triển thương hiệu và đăng ký NHHH, theo công văn số 78/CP-KTTH ngày 20/01/2003của Thủ tướng Chính phủ.

3. Xúc tiến Xây dựng Chương trình Xúc tiến Thương mại và Chương trình Thương hiệu cho các doanh nghiệp của thành phố Đà Nẵng, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Đà Nẵng nhanh chóng tham gia vào lộ trình hội nhập WTO và góp phần làm cho hoạt động SHTT/SHCN thực sự là nhiệm vụ và yêu cầu cấp bách của của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

PHÒNG QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập