Tìm hiểu về Internet không dây (Wireless Internet)
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 01/06/2004 Lượt xem: 23

Năm 1997 Nokia, Motorola, Erisson và Phone.com đã hợp tác cùng nhau tạo ra WAP (Wireless Application Protocol) bởi vì họ tin rằng chuẩn chung toàn cầu sẽ tạo ra sự thành công của Internet không dây. Sau đó, hơn 350 công ty khác đã gia nhập diễn đàn WAP.

Để tạo ra một Website có khả nằn thâm nhập qua thiết bị không dây thật sự là một thử thách vì vậy chỉ có một phần nhỏ trong hơn 1 tỷ Website cung cấp thành phần Internet không dây. WAP được thiết kế để làm việc với bất kỳ dịch vụ không dây nào tồn tại như:

  • Dịch vụ nhắn tin ngắn SMS (Short Message Service).
  • Dữ liệu chuyển mạch tốc độ cao CSD (High-speed Circuit-switched Data).
  • Dịch vụ GPRS (General Packet Radio Service).
  • Dữ liệu dịch vụ bổ sung không cấu trúc USSD (Unstructured Supplementary Services Data).

Ngôn ngữ WML (Wireless Markup Language)

WAP sử dụng WML bao gồm HDML (Handheld Device Markup Language) phát triển bởi Phone.com. WML cũng chỉ ra được nguồn gốc của nó từ ngôn ngữ đánh dấu XML (Extensible Markup Language). Ngôn ngữ đánh dấu là cách thêm các thông tin tới thành phần của bạn. Ngôn ngữ đánh dấu được biết đến nhiều nhất là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML. Không giống như HTML, WML được xem như là ngôn ngữ Meta (Meta Language). Về cơ bản điều này có nghĩa rằng WML cho phép thiết kế ngôn ngữ của đánh dấu của chính mình. WAP cũng cho phép sử dụng giao thức Internet chuẩn như UDP, IP và XML.

Có ba lý do chính tại sao Internet không dây cần giao thức ứng dụng không dây WAP:

  • Tốc độ truyền.
  • Kích cỡ và khả năng đọc được.
  • Sự điều hướng (Navigation).

Hầu hết các Cellphone và các PDA có chức năng truy nhập Web có tốc độ truyền dẫn dữ liệu 14,4 Kbps hoặc thấp hơn so. Nếu so sánh với Modem 56 Kbps thông thường, Cable Modem hay kết nối DSL ta sẽ thấy sự khác biệt lớn về tốc độ truyền. Hầu hết các trang Web ngày nay đều có nhiều hình ảnh nên sẽ tốn một khoảng thời gian dài để Download với tốc độ 14,4 Kbps. Internet không dây chủ yếu được thiết kế kiểu Text-based để giải quyết vấn đề này.

Kích thước nhỏ của màn hình LCD trên Cellphone hoặc PDA lại là một thử thách khác vì hầu hết các trang Web được thiết kế độ phân giải 640x480 pixel phù hợp khi thể hiện trên các máy Desktop hoặc Laptop. Phần lớn các thiết bị không dây sử dụng màn hình đơn sắc kích thước 150x150 pixel.

Navigation là một vấn đề khác. Người dùng chỉ cần nhấn và click chuột khi duyệt qua Web nhưng nếu sử dụng thiết bị không dây họ thường sử dụng một tay để cuộn khoá.

Giao thức ứng dụng không dây WAP

Những điều xảy ra khi thâm nhập vào một Website cho phép truy nhập giao thức WAP:

  • Bạn bật thiết bị và mở MiniBrowser.
  • Thiết bị gửi các tín hiệu vô tuyến (Radio Signal) và tìm kiếm dịch vụ.
  • Một kết nối được tạo với nhà cung cấp dịch vụ.
  • Bạn sẽ lựa chọn Website muốn xem.
  • Một yêu cầu được gửi tới Gateway Server sử dụng WAP.
  • Gateway Server truy xuất thông tin qua HTTP từ Website.
  • Gateway Server sẽ mã hoá dữ liệu HTTP thành WML.
  • Các dữ liệu mã hoá được gửi tới thiết bị của bạn.

Bạn sẽ thấy được phiên bản Internet không dây của trang Web bạn lựa chọn.

Dữ liệu được gửi dưới dạng HTTP bởi WebServer tới WAP Gateway. Hệ thống này bao gồm bộ mã hoá WAP (WAP Encoder), bộ biên dịch Script, Adaptor để chuyển dạng HTTP thành WML. Sau đó Gateway sẽ gửi các dữ liệu đã được Convert tới các WAP Client trên các thiết bị không dây. Điều xảy ra giữa Gateway và các Client phụ thuộc vào đặc điểm khác nhau của ngăn xếp giao thức WAP (WAP Protocol Stack).

WAE (Wireless Application Environment): Môi trường ứng dụng không dây cung cấp các công cụ phát triển thành phần Internet không dây. Nó bao gồm WML và WML Script là ngôn ngữ Script sử dụng chung với WML có chức năng giống như Javascript.

WSP (Wireless Session Protocol): Giao thức phiên không dây xác định phiên nào giữa thiết bị và mạng sẽ hướng kết nối (Connection-oriented) hoặc không kết nối (Connectionless). Trong phiên hướng kết nối dữ liệu thông qua cả hai hướng giữa thiết bị và mạng. Khi đó WSP sẽ gửi các gói dữ liệu tới lớp giao thức Wireless Transaction Protocol Layer. Nếu là phiên không kết nối, thông tin sẽ được quảng bá và truyền từ mạng tới thiết bị, sau đó WSP định hướng các gói tới lớp giao thức Wireless Datagram Protocol Layer.

WTP (Wireless Transaction Protocol): Giao thức thực hiện không dây hoạt động như là một con thoi trên mạng giữ cho dữ liệu logic và thông suốt. WSP và WTP Layer đáp ứng với HTTP trong giao thức TCP/IP.

WTLS (Wireless Transport Layer Security): cung cấp nhiều đặc điểm bảo mật như TLS (Transport Layer Security) của TCP/IP. Nó kiểm tra tình trạng dữ liệu, cung cấp các phương pháp mã hoá, xác thực Client và Server.

WDP (Wireless Datagram Protocol): làm việc cùng với lớp sóng mang của mạng (Network Carrier Layer). WDP dễ dàng tương thích WAP vì tất cả những thông tin được duy trì

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm nâng cao >>









Đăng nhập